Xabi Alonso - người hùng thầm lặng

Tiền vệ ngôi sao của tuyển Tây Ban Nha và Real Madird Xabi Alonso tên thật là Xabier Alonso Olano là một đứa con của xứ Basque, Tây Ban Nha.

Tiền vệ tấn công: Biểu tượng của sự hoa mỹ

Bài viết thứ 2 trong loạt bài về vị trí và vai trò cầu thủ...

Bóng đá tổng lực

Một khái niệm về hệ thống chiến thuật nổi tiếng gắn với thương hiệu của "Những người Hà Lan bay...

Catenaccio

Hệ thống phòng ngự kinh điển từng đưa Inter Milan và tuyển Italia lên đỉnh cao thế giới

WM: Luật việt vị và cuộc cách mạng chiến thuật

Điều gì đã tạo nên tên tuổi của 1 HLV được xem là vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Anh?

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #14: AC Milan, 2002 - 2007

(Đường dẫn đến khung thành) - Milan đã trở thành một trong những đội bóng vĩ đại nhất thập kỷ trước không phải chỉ nhờ danh tiếng của những cầu thủ từng khoác áo Rossoneri! Nhưng phải công nhận một điều rằng, trong thập kỷ đó, Milan là CLB tùng sở hữu nhiều siêu sao đẳng cấp, những huyền thoại thực sự của bóng đá đương đại hơn bất kỳ một CLB nào khác, với Paolo Maldini, Costacurta, Stam, Cafu, Nesta, Serginho, Pirlo, Redondo, Seedorf, Gattuso, Boban, Kaka, Rui Costa, Leonardo, Rivaldo, Ronaldinho, Shevchenko, Ronaldo, Inzaghi, Crespo, Pato…

Giành được đến 3 Champions League trong vòng 5 năm (từ 2003 đến 2007) là một thành tích phi thường! Tuy nhiên, việc chỉ giành được 1 Scudetto trong suốt 8 năm là lý do chủ yếu khiến đội bóng của ông Ancelotti chỉ có thể xếp ở nửa cuối danh sách này.

Một điều hết sức tuyệt vời của Milan là cách mà họ bố trí rất nhiều cầu thủ sáng tạo vào khu vực trung tâm với Andrea Pirlo là "mắt bão". Sẽ thật là một thiếu sót to lớn nếu không đề cập đến cuộc cải tạo vị trí đã đi vào huyền thoại của Ancelotti nhằm vào Pirlo trong thời gian đó: Khi bắt đầu sự nghiệp trong những năm chuyển giao thế kỷ, Pirlo được đánh giá là 1 "tiền vệ số 10" (fantasista) đầy triển vọng, là một Roberto Baggio mới. Thực tế, anh đã thi đấu rất hay trong vị trí phía sau hàng tiền đạo ở tuyển U-21 Italia khi vừa có khả năng kiến tạo, vừa có thể trực tiếp ghi bàn. Nhưng thật không may, Inter Milan đã không thể tìm thấy bất kỳ một vị trí nào trong đội hình chính thức cho Pirlo lúc đó, và họ đã gửi anh về CLB khởi nghiệp là Brescia theo một hợp đồng cho mượn để có thể học hỏi kinh nghiệm trực tiếp từ "phiên bản gốc" là "đuôi ngựa thần thánh" Roberto Baggio. Tuy nhiên, Carlo Mazzone, bằng cách thay đổi hoàn toàn cách chơi của Pirlo, đã khiến anh không còn cơ hội để phát triển thành 1 Baggio mới. Ở Brescia, Pirlo thi đấu ngay phía trước hàng hậu vệ, được yêu cầu giữ vị trí và kiến tạo từ xa – sử dụng những đường chuyền vượt tuyến có độ chính xác tuyệt đối để gây đột biến.

Milan đã nhìn thấy được những hệ quả tuyệt vời từ một Pirlo lùi sâu nên đã quyết định mua anh từ đối thủ cùng thành phố với giá 12 triệu bảng. Nhưng mùa giải đầu tiên của anh ở Milan là một mùa giải đáng quên khi đội bóng chỉ loay hoay ở vị trí thứ 5 và 6 còn mùa giải thì đã gần kết thúc: Carlo Ancelotti hiểu rằng, ông sẽ mất việc nếu Milan không được dự Champions League mùa sau nên đó không phải là thời điểm thích hợp cho một cuộc cách tân chiến thuật. Khả năng sáng tạo của Pirlo không được ưu tiên bằng kinh nghiệm của Demitrio Albertini, sự chắc chắn của Massimo Ambrosini hoặc sức mạnh của Massimo Donati, một tiền vệ trẻ khác của Ý mà Milan đã mua trong năm 2001. Thêm nữa, khi Fernando Redondo trở lại sau chấn thương, Pirlo buộc phải trả lại suất đá chính cho cầu thủ này và tiếp tục khoảng thời gian gắn bó với băng ghế dự bị.

Khi Albertini ra đi vào mùa hè năm 2002, một đồng đội cũ của Pirlo ở Inter là Clarence Seedorf xuất hiện. Cùng với Manuel Rui Costa , Milan đã chơi với 2 tiền vệ kiến thiết dâng cao. Điều này khiến các tiền vệ trung tâm của các đối thủ bị buộc phải lùi sâu hơn để hỗ trợ phòng ngự. Cộng thêm sự xuất hiện tiền vệ trụ Gattuso, chiến binh "là một mà như hai", Pirlo được hoàn toàn giải phóng để phát huy tối đa khả năng sáng tạo từ những đường chuyền vượt tuyến của mình. Như thế, Milan đã sử dụng đến 3 cầu thủ "số 10" trong cùng một đội hình, và thậm chí là trong cùng khu vực trung tâm.

Milan, đội hình vô địch UEFA Champions League 2003 
Milan đã vô địch Champions League mùa giải đó bằng một hàng thủ 4 người vững chắc và hai tiền đạo sát thủ ngoại hạng. Đội hình 4-3-1-2 khá điển hình với Seedorf và Gattuso luôn hoạt động không biết mệt mỏi, Milan đã có một trung tuyến năng nổ và xuất sắc tuyệt vời.

Đa phần các đội bóng thường sẽ ngủ quên trên chiến thắng khi giành được cup châu Âu, nhưng Milan thì không: Họ ngay lập tức bắt đầu mùa giải mới bằng một cầu thủ trẻ người Brazil tên là Kaka. Và cũng với những chấn thương liên miên của Pilipo Inzaghi, Milan thậm chí còn gây ra nỗi ám ảnh kinh hoàng cho phần còn lại của Serie A bằng việc sử dụng cùng lúc cả 4 số 10 ở khu trung tâm là Kaka, Rui Costa, Seedorrf và Pirlo. Năm đó, Shevchenko đã ghi được 24 bàn thắng, và Milan thì bỏ xa đội bóng xếp thứ 2 với 11 điểm cách biệt.

Milan, đội hình đoạt Scudetto năm 2004
Tuy nhiên, hàng tiền vệ tổ chức tấn công càng xuất sắc bao nhiêu, thì hệ thống phòng thủ lại càng yếu kém bấy nhiêu. Ở riêng Champions League, đội hình này của Milan từng phải đối mặt với 2 pha lội ngược dòng kinh điển của lịch sử giải đấu: Năm 2004, sau khi đè bẹp Deportvo 4-1 ở tứ kết lượt đi, họ đã phải nhận thất bại nhục nhã 4-0 tại Riazor trong trận lượt về; và nổi tiếng hơn nữa là trận chung kết Champions League năm 2005, sau khi dẫn trước đến 3 bàn trong hiệp 1, Milan đã sụp đổ hoàn toàn trước khi bất lực nhìn Liverpool đăng quang ở Istanbul.

Thất bại đáng xấu hổ đó là nguyên nhân cho những thay đổi tiếp theo của Ancelotti. Ông nhận thấy rằng, đội bóng của mình cần thêm chất thép ở tuyến giữa trong khi Seedorrf và Gattuso đã bắt đầu già đi và không còn có thể bao sân được như thời gian trước. Kết quả là, Massimo Ambrosini - một tiền vệ trụ khác - được bổ sung vào đội hình chính thức, và Seedorf được yêu cầu đá cao hơn, ở ngay sau lưng Kaka.

Milan, đội hình vô địch Champions League 2007
Sự hạn chế vị trí tổ chức sáng tạo ở khu trung tâm đề giảm thiểu nguy cơ được bù đắp bằng hai hậu vệ tấn công đầy tốc độ là Jankulovski và Oddo. Và Milan mùa giải đó, nhờ giải quyết được rốt ráo vấn đề phòng ngự, đồng thời vẫn giữ vững được sức mạnh tấn công áp đảo, đã giành lại được ngôi vương ở UEFA Champions League.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #15: Đội tuyển Brazil, 2007 - 2009

(Đường dẫn đến khung thành) - Đội hình này của Brazil (với vài sự thay đổi nhỏ ở một số vị trí) là một đội hình xuất hiện tràn ngập khắp các trang viết của Zonalmarking (đáng tiếc là nó đã quá xa xưa cho những ai ưa thích Brazil và thói quen dịch thuật của tôi), mà tiêu biểu như "Brazil – a 4-2-3-1 or a midfield diamond? Neither"

Cùng phân tích về đội hình này, bài viết của Jonathan Wilson trên Guardian với nhan đề "How is Brazil's 4-2-3-1 different from a European 4-2-3-1?" bổ sung qua lại rất tốt cho bài viết trên: Rằng Brazil đương thời, rốt cục họ thi đấu theo sơ đồ 4-4-2 kim cương hay là 4-2-3-1 của châu Âu?


Báo giới đương thời đã không ngừng chỉ trích đội hình chiến thuật này như là "một Brazil yếu nhất trong nhiều năm trở lại đây", nhưng trên thực tế, nó đã vận hành rất tốt. Và vị trí đội hạt giống World Cup năm 2010 của họ, rõ ràng không phải không có lý do.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

--------
Có lẽ, trong một dịp khác, tôi sẽ lượt dịch hai bài viết trên để người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về đội bóng rất được ưa thích này

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #16: Đội tuyển Senegal, World Cup 2002

Xét về mặt kết quả, chiến thắng của Senegal trước Pháp trong trận mở màn World Cup 2002 là cú sốc lớn nhất của thập kỷ qua. Đó là một trong những trận đấu đã đi vào lịch sử, và thật khó để có thể mô tả lại được khung cảnh và những cung bậc cảm xúc khác nhau lúc bấy giờ của hai đội.


(Đường dẫn đến khung thành) - Pháp không chỉ là đội hạt giống của World Cup năm đó, mà còn là nhà đương kim vô địch của cả World Cup lẫn Euro, sở hữu cầu thủ xuất sắc nhất thế giới thời điểm đó là Zinedine Zidane, 3 vua phá lưới của Serie A (David Trezeguet), Premier League (Thierry Henry) và Lique 1 (Djibril Cisse) và giữ lại được hầu hết đội hình đã giúp họ đăng quang vào 4 năm trước đó.

Ngược lại, năm 2002 là lần đầu tiên trong lịch sử, Senegal lọt được vào vòng chung kết World Cup, đương nhiên, với một dàn cầu thủ hoàn toàn vô danh (trên đấu trường thế giới). Tỷ lệ đặt cược cho chức vô địch của Senegal chỉ là 500-1 (1 ăn 500) và mọi dự đoán đều khẳng định rằng họ sẽ về nước với vị trí chót bảng. Là một cựu thuộc địa của Pháp, người ta thậm chí còn nhìn nhận rằng, Senegal là đội hình B của Pháp, vì nếu như ở đây có bất kỳ cầu thủ tài năng nào, như kiểu của Viera (sinh ra ở Senegal), thì họ sẽ được chọn vào chơi cho tuyển Pháp.

Một trong những lợi thế của Senegal là, 21/23 cầu thủ trong đội hình đăng ký đều là những người chơi bóng ở Pháp (2 người còn lại là 2 thủ môn dự bị), và HLV của họ, ông Bruno Metsu là một người Pháp. Vị HLV này đã phân tích rất kỹ càng những ưu - nhược điểm của Pháp, soi từng giây ghi hình một để chứng minh rằng đương kim vô địch thế giới không phải là bất bại. Cũng phải lưu ý thêm rằng, nhờ cách này, Bruno Metsu đã đưa Senegal vào đến trận chung kết CAN 2002 trước khi thất bại trước Cameroon trên chấm luân lưu.

Senegal sử dụng sơ đồ 4-1-4-1, với tiền đạo duy nhất là El-Hadhi Diouf và những chiến binh không phổi ở hàng tiền vệ. Thời gian đó, Aliou Cisse đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ thu hồi và phân phối bóng ra hai cánh từ vị trí thấp nhất hàng tiền vệ.

Sơ đồ này thực sự hiệu quả! Tốc độ kinh hoàng của Diouf - cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi năm đó - liên tục xé toang liên kết giữa bộ đôi lão tướng của Chelsea là Frank Leboeuf và Marcel Desailly nhờ những đường chuyền vượt tuyến. Không thể tin được rằng, Diouf đã việt vị đến 12 lần chỉ trong 90 phút thi đấu.

Bàn thắng của Senegal là sự thể hiện xuất sắc 3 ưu điểm tuyệt vời của chiến thuật Senegal: Thứ nhất, dùng thể lực chiếm lĩnh khu trung tuyến và không cho Djorkaeff có cơ hội chạm vào bóng; thứ 2 thường xuyên tổ chức những đường chuyền vượt tuyến để tận dụng tốc độ của Diouf; và thứ 3 là xâm nhập cực nhanh vào vòng cấm địa để nhận bóng ghi bàn. Cái gọi là "phản công" thương được sử dụng để biểu thị các đòn tấn công xuất phát từ hàng hậu vệ, nhưng nó không có nghĩa rằng những pha tấn công nảy sinh sau khi tiền vệ cướp được bóng như video dưới đây  không phải là một pha phản công chuẩn mực.


Đương nhiên, trận đấu với Pháp không phải là tất cả! Senegal thậm chí còn trở thành đội bóng châu Phi thứ 2 trong lịch sử lọt được vào vòng tứ kết World Cup sau khi hòa tiếp với Đan Mạnh và Uruquay - trận đấu mà họ đã ghi đến 3 bàn trong hiệp 1 - và vượt qua Thụy Điển ở vòng 16 đội.
Bàn thắng trong trận gặp Đan Mạch có thể thâu tóm được tất cả mọi tinh túy từ ngón đòn phản công của Senegal - một pha phản công đi hết chiều dài sân đấu chỉ trong vòng 14 giây đồng hồ.

Ở tứ kết, Senegal đã không may mắn khi để cho Thổ Nhĩ Kỳ ghi được bàn thắng vàng trong hiệp phụ. Dù sao thì họ cũng đã thi đấu không tốt, và không thể hiện được những phẩm chất của mình như từng làm trong 4 trận đấu trước.

Sau World Cup, Mestu đã rời Senegal (mặc dù đã cưới một phụ nữ người Senegal và cải đạo sang Hồi giáo) và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp huấn luyện viên ở Trung Đông những năm tiếp theo, còn một nửa đội hình Senegal cũng chuyển đến chơi cho các CLB nửa cuối bảng xếp hạng Premier League. Nhưng từ đó đến nay, Senegal đã không thể lọt vào vòng chung kết World Cup thêm một lần nào nữa.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #17: Bologna, 2001-2002

(Đường dẫn đến khung thành) - Quả là kỳ quặc khi một đội bóng chỉ đứng hạng 7 Serie A lại có thể có được một vị trí trong danh sách 20 đội hình của thập kỷ như thế này. Nhưng những kết quả trên bảng tổng sắp Serie A mùa giải 2001-2002 là một kết quả không tương xứng với những gì Bologna thể hiện: Cạnh tranh sòng phẳng với cả những đối thủ sừng sỏ của bóng đá thế giới đương thời, và chỉ để tuột vị trí thứ 4 (và cùng với nó là quyền tham dự Champions league) vào tay chính đối thủ của mình trong trận cuối cùng của mùa giải là Milan - đội bóng đã vô địch Champions League mùa giải sau đó.


Hệ thống chiến thuật của Bologna được xây dựng xoay quanh lối chơi của Jilio Cruz, cầu thủ cao 191cm của Argentina, người chỉ ghi được 7 bàn thắng trong mùa giải đầu tiên chuyển đến Serie A sau mùa giải thành công cùng Feyenoord. Thực tế là, vì thành tích ghi bàn nghèo nàn như vậy, tên anh thường xuyên bị giới bóng đá Ý mang ra làm trò cười, giống như cái cách mà người Anh chế giễu Emile Heskey vậy. 

Thế thì, nếu Cruz không thể ghi bàn, thế thì anh đá tiền đạo thế nào được?

Thực ra, Cruz là một cầu thủ cực kỳ quan trọng trong hệ thống chiến thuật của Francesco Guidolin. Mặc dù thành tích ghi bàn chỉ được cải thiện chút ít, với 10 bàn thắng trong mùa giải 2001-2002, Cruz đã có được một mùa giải thực sự xuất sắc, xuất sắc đến nỗi khiến tất cả những lời chỉ trích của báo giới hướng vào anh phải tắt ngấm, và tất cả những gì còn lại là những lời tán tụng. Nhiệm vụ của anh hoàn toàn đơn giản: Không chiến và tì đè các trung vệ đối phương để giành quyền kiểm soát bóng và nhả ngược lại cho các cầu thủ tấn công xuất sắc ở tuyến sau kiểu như Giuseppe Signori, Claudio Bellucci, Tomas Locatelli, hoặc Fabio Pecchia và Lamberto Zauli.

Cruz không phải là tiền đạo đầu tiên trong lịch sử đảm nhận chuyên biệt nhiệm vụ chặn bóng (làm tường), nhưng sự phổ biến của sơ đồ 1 tiền đạo trong khoảng giữa và cuối thập kỷ trước khiến chiến thuật này thành công vang dội. Bologna thậm chí đã thi đấu hết sức thành công trước các đội bóng lớn: Họ từng hòa với Juventus và thắng cả Inter Milan và AC Milan trên sân nhà. Và ý tưởng trên là cơ sở cho chiến thuật của Fabio Capello khi ông dẫn dắt đội tuyển Anh (mặc dù cuối cùng thì, Heskey vẫn không được tán dương như Cruz)

Một điều đáng chú  ý khác về đội hình của Bologna thời điểm đó là khả năng tự thay đổi (hoàn toàn) sau mỗi trận. Thật khó để có thể gọi tên chính xác tên sơ đồ mà Bologna sử dụng suốt mùa giải. Guidolin sử dụng cả 4-3-2-1, 4-2-3-1, và 3-4-1-2 (mặc dù ông thích tuyến phòng thủ 3 người hơn) và tùy biến hệ thống một cách hoàn toàn thoải mái sao cho phù hợp nhất với từng đối thủ. Đó cũng là lý do giúp Bologna thi đấu ấn tượng trước các đối thủ mạnh suốt mùa giải.


Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #18: Đội tuyển Australia, World Cup 2006

(Đường dẫn đến khung thành) - Công bằng mà nói, Guus Hiddink có thể có đến 3 đội hình lọt được vào danh sách này, với cả Hàn Quốc ở World Cup 2002 là thành tích tốt nhất của ông trong suốt thập kỷ trước, Nga năm 2008 là đội bóng hay nhất mà ông từng dẫn dắt trong cùng thời gian. Tuy nhiên, đội hình được chúng tôi lựa chọn ở đây lại là Australia năm 2006 - đội bóng đã lọt vào vòng chung kết World Cup lần đầu tiên sau 32 năm chờ đợi (từ 1974). Và dĩ nhiên, trong lần đó, họ đã phải khổ chiến với Uruquay để giành suất playoff, chứ không đường hoàng được như năm 1974.


Thành tích của họ phần lớn là hệ quả của việc bố trí một đội hình rất lạ và thay đổi liên tục trong suốt thời gian diễn ra giải đấu. Sơ đồ chiến thuật của Australia lúc bấy giờ chỉ có 2 hằng số:  Luôn có một hàng thủ 3 người và 1 tiền đạo cắm. Nói cách khác, tất cả các tùy biến ở đây đều là biến thể của 3-6-1.

Thực tế, Australia thường chơi với sơ đồ gần với 3-3-3-1, với 2 hậu vệ tấn công cánh, 1 tiền vệ trụ lùi rất sâu và 3 tiền vệ có hơi hướng tấn công hỗ trợ tiền đạo duy nhất là Mark Viduka. Nhưng sáu cầu thủ tuyến giữa đồng nghĩa với việc đội bóng của Hiddink có thể hoán chuyển linh động từ đội hình phòng ngự sang tấn công - đây là điều kiện cho hai cuộc lội ngược dòng ngoạn mục của Australia trước Nhật Bản và Croatia ở vòng bảng. Khi Hiddink kéo 1 tiền vệ xuống thấp hơn để phòng thủ, nó trở thành 3-4-2-1, và khi ông đẩy 2 tiền vệ lệch cánh cao lên để tấn công, nó lại thành 3-3-1-3.

Guus Hiddink cũng có điều kiện để thoải mái tráo đổi vị trí các cầu thủ với nhau khi mà trên thực tế,  không tính bộ khung cố định là Schwarzer, Neill/Moore - Cahill - Viduka, còn lại, các cầu thủ như Brett Emerton, Harry Kewell, Mark Bresciano và Mile Sterjovski... đều có thể thi đấu tốt ở nhiều vị trí khác nhau.

Lợi ích lớn nhất mà sơ đồ 3-6-1 mang lại cho Australia là sự vượt trội năng lực kiểm soát bóng trước các đối thủ là Nhật Bản (55%), Croatia (56%), và Italia (58%). Ngay cả khi phải đối mặt với một Brazil hoàn toàn vượt trội về kỹ năng chuyền và điều khiển bóng, Australia cũng giành được đến 47% tỷ lệ kiểm soát.

Chiến thuật này phòng thủ tốt hơn nhiều so với tấn công: Họ phải mất đến 85 phút mới có thể ghi bàn vào lưới một đội bóng trung bình là Nhật Bản, và bàn thắng trước Croatia cũng không hề đơn giản. Cuối cùng, họ thậm chí phải trả giá vì đã không thể ghi bàn vào lưới một Italia chỉ có 10 người và hoàn toàn không có cầu thủ chạy cánh. Để rồi trong 10 phút cuối trận, Hiddink buộc lòng phải thay cầu thủ chạy cánh phải của mình thành 1 tiền đạo thứ 2, và một điều không ai có thể ngờ được là, một hậu vệ trái không bao giờ dâng cao như Fabio Grosso lại có thể lợi dụng cơ hội đó để tạo cơ hội ăn bàn cho Italia.

Người ta nói, quả Penalty đó thực sự là một vấn đề đáng tranh cãi khi nó trực tiếp tiễn Australia về nước, và Guus Hiddink thì lại khẳng định được, một đội bóng chiếu dưới có thể gây ra khó khăn lớn đến như thế nào cho những đối thủ hùng mạnh nếu có một chiến thuật hợp lý, và sơ đồ 3-6-1 (cũng như những biến thế của nó) thực sự là một chiến pháp đầy hiệu quả để chiếm lĩnh thế trận.
Giây phút tuyệt vời nhất của họ trong World Cup năm đó có thể là bàn thắng đưa Australia vào vòng knock out của Harry Kewell trong trận gặp Croatia. Tuy đã không thực sự gắn kết, nhưng người Úc cũng đã thể hiện rất tốt ý đồ của HLV - sử dụng sự áp đảo về nhân số để chiếm lĩnh không gian, đưa bóng ra biên và tạt vào khu vực có đến 4 cầu thủ tấn công

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #19: Đội tuyển Pháp, Euro 2004

(Đường dẫn đến khung thành) - Đội hình này xuất hiện trong danh sách nhờ ý tưởng xuất phát ẩn bên trong nó, chứ không phải nhờ những gì họ đã làm được. Thành tích của đội tuyển Pháp ở Euro 2004 thực sự là rất tệ: Bị Anh áp đảo hoàn toàn trong trận mở màn, thậm chí còn bất lực để Hy Lạp đá văng khỏi Euro ở vòng tứ kết.

Chiến thuật của Jacques Santini là như thế này: Ông muốn đặt Zidane vào vị trí trung tâm của tứ giác công thủ với 2 tiền đạo là Trezeguet và Henry ở trên, và 2 cầu thủ đánh chặn là Viera và Makelele ở phía sau. Ông cũng cần khả năng tấn công cánh với với Robert Pires ở phía bên phải. Ông hiểu rằng, vì ông đang sở hữu một hậu vệ cánh trái có khả năng công thủ toàn diện trong khi Henry cũng có thói quen dạt sang cánh trái khi đội nhà mất bóng. Do đó, thay vì đặt một tiền vệ cánh trái thực thụ vào đội hình, ông lại chỉ đạo cho Henry dạt sang cánh trái để trám vào vị trí này khi đội nhà mất bóng. Ngược lại, khi đội nhà có bóng, nhờ sự chắc chắn của bộ đôi tiền vệ trụ Viera - Makelele và một trung vệ thuận chân trái, có khả năng chơi tốt ở vị trí hậu vệ trái là Silvestre, Lizarazu được yêu cầu đẩy cao vị trí để thi đấu như một tiền vệ cánh. Thêm nữa, dù sao, Zidane cũng đá hơi lệch sang cánh trái.

Vậy sai lầm nghiêm trọng nhất về mặt chiến thuật ở đây là gì? Để cho công bằng, chúng tôi sẽ nhường quyền lựa chọn lại cho bạn.

- Trước tiên, tuyển Pháp không cần đến 2 tiền vệ trụ trong đội hình của mình (lập luận trên có thể sẽ nhận được khá nhiều tranh cãi trong trận gặp đội tuyển Anh).

- Thứ hai, Robert Pires không thực sự thoải mái khi thi đấu bên cánh phải. Mặc dù theo logic thông thường thì một cầu thủ thuận chân phải (như Pires) sẽ dễ dàng thực hiện những quả tạt nguy hiểm khi thi đấu bên cánh phải. Nhưng với trường hợp của Pires, người thường xuyên đá bó vào trong và tung ra những cú sút chéo góc, hoặc chọc khe cho đồng đội bên trong, anh sẽ không thể thể hiện được hết khả năng của mình như khi thi đấu ở Arsenal nếu không được đá bên trái. Hơn nữa, đẩy Pires ra xa khỏi Henry, xóa bỏ liên kết đang là nỗi khiếp sợ của mọi đối thủ khi gặp Arsenal, Jacques Santini giống như đã tự chặt tay mình rồi vậy.

- Thứ ba, điều kiện thể lực của Bixente Lizarazu là không đủ để đáp ứng yêu cầu chiến thuật. Anh ta có thể là một hậu vệ cánh công thủ toàn diện, nhưng biến anh thành một người hai vị trí là hoàn toàn phi thực tế (điều này chỉ có thể là khả thi trong trường hợp của các hậu vệ cánh của Brazil - những chiến binh không phổi của bóng đá thế giới). Hơn nữa, cường độ thi đấu dày đặc, diễn tiến khốc liệt và cái nóng đáng sợ của mùa hè Bồ Đào Nha khiến mọi cầu thủ đều phải hao tốn nhiều thể lực hơn nhiều so với bình thường. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến bàn thắng đã hất cẳng Pháp khỏi Euro của Hi Lạp: Một Lizarazu bị hao mòn thể lực có vẻ như đã cản phá một cách quá biếng nhác nên để đối thủ vượt qua.

- Thứ tư, khi Pires ở bên cánh trái thi đấu bó vào trong như những gì anh thường thể hiện trong màu áo CLB, sơ đồ chiến thuật của Pháp lập tức bị mất cân bằng nghiêm trọng vì Gallas không có khả năng tấn công tốt để trám vào chỗ trống anh để lại như những gì Lizarazu làm được ở cánh bên kia.

- Và cuối cùng, một vấn đề khá tế nhị, Zinedine Zidane trong thời điểm đó đã không còn giữ được phong độ tuyệt vời như thời đỉnh cao để một mình chèo lái cả đội. Thời điểm ấy, Zidane chỉ vừa mới trải qua một mùa giải...trung bình, Real Madrid của anh chỉ đứng hạng 4 ở La Liga, thêm nữa, nhiệm vụ của anh ở Galacticos lại quá nhàn nhã: Chỉ cần tập trung điều phối bóng, dứt điểm, chạy chỗ, hoặc phòng thủ đều có người khác lo.

Nỗ lực đáng khâm phục của Santini khi dám thử nghiệm một hệ thống chiến thuật hoàn toàn khác biệt (dù chỉ là lạ trong các trận đấu của tuyển quốc gia) là một ví dụ điển hình cho việc cố gắng nhồi nhét tất cả những cầu thủ tốt nhất của mình vào cùng một sơ đồ chiến thuật, bất chấp hệ quả thiếu cân bằng mà nó tạo ra. Trong trận tứ kết, Pháp có rất ít cơ hội ghi bàn vào lưới Hi Lạp đơn giản chỉ vì họ tấn công chỉ với 4 người, trong khi Hi Lạp có đến 8 cầu thủ phòng ngự.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #20: Sevilla 2005-2007

(Đường dẫn đến khung thành) - Một điều hết sức khó tin là, chỉ khoảng 2 năm rưỡi trước đây (bài viết được thực hiện vào tháng 1/2010), Juande Ramos đã từng được xem là một trong những HLV xuất sắc nhất châu Âu khi đưa Sevilla đến với những thành công chưa từng có trong lịch sử câu lạc bộ với 2 cup UEFA, 1 Copa del Rey cup, 1 Siêu cup Tây Ban Nha và 1 Siêu cup châu Âu chỉ trong vòng 2 năm dẫn dắt đội bóng.


Hệ thống chiến thuật của Ramos khá đơn giản (đó là lý do vì sao Sevilla lại nằm ở cuối danh sách) với sơ đồ 4-4-2 cổ điển với 1 tiền vệ trụ, 2 hậu vệ tấn công cánh và một tiền đạo lùi.

Thành công của Ramos phụ thuộc phần lớn vào những bản hợp đồng chất lượng mà ông mang về suốt thời gian làm việc tại đây: Luis Fabiano, Frederic Kanoute (được mang về sau khoảng thời gian đáng quên ở Porto và Tottenham), Dani Alves (có giá rẻ như bèo nhưng lại nhanh chóng tỏa sáng để trở thành một trong những hậu vệ cánh hay nhất thế giới), và Enzo Maresca (không được trọng dụng ở Juventus, nhưng là tiền vệ con thoi hoàn hảo để đá cặp với một tiền vệ kỷ luật hơn ở Sevilla là Marti)

Ramos cũng được hưởng lợi khá nhiều từ hau cầu thủ chạy cánh tuyệt vời trưởng thành từ chính lò đào tạo của Sevilla là tiền vệ không phổi Jesus Navas và Antonio Puerta, một cầu thủ chạy cánh sở hữu cái chân trái rất "dị" và lối chơi hết sức cơ động (vào đầu mùa giải 2007-2008, cầu thủ này đã chết vì một cơn trụy tim).
Không lâu sau, Ramos chuyển đến Tottenham, và Sevilla vẫn về đích thứ 5 ở La Liga mùa giải đó nhờ giữ chân được nguyên vẹn đội hình từng mang lại thành công cho họ. Nhưng có lẽ, họ sẽ không thể nào lập lại được thành tích 5 danh hiệu/18 tháng như dưới thời Ramos nữa!

Chiến thắng Middlesbrough trong trận chung kết UEFA năm 2006, tính tới thời điểm này, vẫn đang nắm giữ kỷ lục về trận thắng đậm nhất lịch sử các trận chung kết của giải.

Và bằng chiến thắng trước Espanyol trong trận chung kết mùa giải tiếp theo đó, Sevilla trở thành câu lạc bộ thứ 2 trong lịch sử bảo vệ thành công chức vô địch UEFA. Khoảnh khắc nhiều cảm xúc nhất thời điểm đó có lẽ là bàn gỡ hòa ở phút thi đấu cuối cùng của thủ môn Andres Palop. Sau đó, cũng chính Palop đã cản phá thành công đến 3 quả luân lưu để đưa Sevilla vượt qua Shakhtar Donetsk ở vòng 16 đội.



Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Joga Bonito

(Đường dẫn đến khung thành) - Một trong những thuật ngữ nổi tiếng nhất, là đích đến, và là căn cứ so sánh sức mạnh và vẻ đẹp của mọi triết lý bóng đá đỉnh cao trong thời đại của nó, khái niệm gắn với niềm tự hào của bóng đá Brazil trong suốt thời kỳ họ thống trị nền bóng đá thế giới – Joga Bonito. 


Vậy Joga Bonito là gì? Với những người tiếp xúc với bóng đá muộn hơn, trong vòng gần nửa thế kỷ, hoặc xa hơn nữa, sau khi thế hệ vàng của bóng đá Brazil nói chung và Joga Bonito nói riêng chấm dứt sự nghiệp vĩ đại của mình, điều gì khiến họ tin rằng một huyền thoại là có thực, khi mà ngay chính con cháu của huyền thoại đó, những vũ công Samba hiện tại, cũng đã từng bước một chối bỏ triết lý chơi bóng của cha ông để trở nên thực dụng hơn, kỷ luật hơn, và hiệu quả hơn? Và có cơ may nào cho kẻ sinh sau đẻ muộn như chúng ta được chiêm ngưỡng thêm một lần nữa sức mạnh và vẻ đẹp của lối chơi từng khiến cả thế giới phải kính phục với tất cả lòng tự tôn trong suốt một thời gian dài?

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More