Xabi Alonso - người hùng thầm lặng

Tiền vệ ngôi sao của tuyển Tây Ban Nha và Real Madird Xabi Alonso tên thật là Xabier Alonso Olano là một đứa con của xứ Basque, Tây Ban Nha.

Tiền vệ tấn công: Biểu tượng của sự hoa mỹ

Bài viết thứ 2 trong loạt bài về vị trí và vai trò cầu thủ...

Bóng đá tổng lực

Một khái niệm về hệ thống chiến thuật nổi tiếng gắn với thương hiệu của "Những người Hà Lan bay...

Catenaccio

Hệ thống phòng ngự kinh điển từng đưa Inter Milan và tuyển Italia lên đỉnh cao thế giới

WM: Luật việt vị và cuộc cách mạng chiến thuật

Điều gì đã tạo nên tên tuổi của 1 HLV được xem là vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Anh?

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #6: Bayer Leverkusen, 2001-2002

(Đường dẫn đến khung thành) - Một điều rất đặc biệt là đội hình này của Bayer Leverkusen đã không có được bất kỳ một danh hiệu nào vì áp lực khủng khiếp của cả ba giải đấu đổ lên vai một đội hình quá mỏng. Từ một đội bóng có cơ hội làm cú ăn ba lịch sử, họ liên tục bị đánh gục trên tất cả các mặt trận bằng thất bại trong trận đấu cuối cùng của Bundesliga (và để Dortmund vượt hơn đúng 1 điểm), bị Schalke hạ gục trong trận chung kết German Cup, và bị Real Madrid đánh bại ở chung kết Champions League.
Nhưng thực sự, những lời chế giễu từ giới truyền thông khi gọi họ là Bayer Neverkusen quả thực không công bằng khi phủ nhận tất cả những gì mà Klaus Topmoller đã làm cho CLB. Bayer Leverkusen là một đội bóng đã hết thời, không có ngôi sao thực sự, và chưa từng vô địch Bundesliga. Thậm chí, trong cuộc bầu chọn 11 cầu thủ cho đội hình xuất sắc nhất thế kỷ của CLB vào năm 2004, có không ít hơn 7 cầu thủ góp mặt là thành viên của đội hình 2001-2002 này.


Khi thi đấu ở Champions League, họ đã không được đánh giá cao khi đối đầu với các đội bóng anh, nhưng thực thế là, họ đã loại cả Arsenal, Liverpool và Manchester United (một cách khá may mắn) ngay thời điểm mà Ngoại hạng Anh đang vươn mình mạnh mẽ trên bản đồ bóng đá châu Âu (và đang lăm le "hất cẳng" Bundesliga khỏi vị trí thứ 3 danh sách những giải đấu hàng đầu châu Âu).

Thực tế, sơ đồ 4-1-4-1 của Topmoller đã vận hành rất tốt. Oliver Neuville hoàn toàn hồi sinh ở vị trí tiền đạo duy nhất. Chỉ sở hữu chiều cao có 5,7 feet (khoảng 170cm), nhưng Oliver Neuville đã thi đấu tuyệt vời đến nổi toàn bộ những yêu cầu thể hình dành cho một tiền đạo mục tiêu đều trở nên vô nghĩa. Anh lôi kéo vào phá vỡ tuyến phòng ngự đối phương, mở rộng không gian chơi bóng cho Michael Ballack, người đã ghi đến 17 bàn thắng trong 29 trận đấu tại Bundesliga (một kỷ lục thực sự đối với các tiền vệ, và chỉ thua vua phá lưới mùa giải năm đó đúng 1 bàn), và 7 bàn thắng trong 15 trận Champions League.

Đá cặp cùng với Ballack là một tài năng khác, Yildiray Basturk, một cầu thủ không sở hữu tốc độ tuyệt vời như Ballack, nhưng lại có lối chơi thông minh và những đường chuyền "như đặt" từ khu trung tâm. Bernd Schneider và một "Ze Roberto xuất chúng" (một trong những tiền vệ giỏi nhất của thập kỷ, nhưng chưa bao giờ được đánh giá cao) chơi bóng bên cánh cũng thi đấu hết sức xuất sắc: Liên tục có những pha dốc bóng tốc độ từ hai biên và tạt cánh, cũng như che chắn cực tốt cho các hậu vệ cánh.

Một cầu thủ quan trọng khác, một trong những nhân tố quyết định sự thành công của đội bóng là Carten Ramelow, một cầu thủ cao to và mạnh mẽ đứng ngay phía trước hàng hậu vệ. Anh ta luôn sẵn sàng lùi sâu để thi đấu như một trung vệ thứ ba. Điều này có nghĩa là 2 hậu vệ cánh là Placente và Sebescen có thể dâng cao tấn công bất kỳ lúc nào.

Việc mất đi đội trưởng Jens Nowotny vì một chấn thương đầu gối nghiêm trọng khiến cho Bayer Leverkusen gặp rất nhiều khó khăn trong trận chung kết Champions League, mặc dù đã chơi rất hay trước đó. Cuối cùng, họ đã để dính "bàn thắng của thập kỷ" từ cú vô lê chân trái của cầu thủ nổi tiếng nhất trong thời điểm hiện tại của bóng đá thế giới - Zinedine Zidane. Và trận đấu với Leverkusen lần đó có lẽ sẽ vẫn là trận đấu đáng nhớ nhất sự nghiệp vĩ đại của cầu thủ này.

Sau khi xem xét tất cả các khía cạnh, có lẽ sẽ thật không công bằng nếu không cho rằng Leverkusen đã có một hệ thống chiến thuật đặc biệt so với phần còn lại của bóng đá châu Âu 1 thập kỷ qua: Một tiền đạo duy nhất có thói quen lùi sâu, một tiền vệ được khuyến khích tấn công càng nhiều càng tốt, một tiền vệ trụ lùi sâu và 2 hậu vệ tấn công cánh.

Mùa hè năm 2002, cả Ballack lẫn Ze Roberto đều chuyển đến Bayern Munich, và Leverkusen lại mất thêm Nowotny cả mùa giải vì chấn thương. Mùa giải sau đó, họ cũng đã vào được đến vòng 2 Champions League, nhưng cuối cùng lại phải chiến đấu để trụ hạng, và Topmoller bị sa thải vào tháng 1. Bayer Leverkusen kết thúc mùa giải năm đó với một vị trí playoff giữ suất trụ hạng.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #7: Đội tuyển Tây Ban Nha, Euro 2008

(Đường dẫn đến khung thành) - Thật khó khăn khi tìm một vị trí cho Tây Ban Nha trong danh sách mà sự sáng tạo chiến thuật xuyên suốt cũng quan trọng như lối chơi và thành công của nó: Một mặt, đội hình này đã được triển khai hết sức nhuần nhuyễn và năng động; nhưng mặt khác, cùng với sự phát triển của nó, những vấn đề của hệ thống, với 2 tiền đạo đích thực, đã hoàn toàn thất bại khi không thể khằng định được sự ưu việt của mình (nếu không muốn nói là thua sút) so với một sơ đồ chiến thuật ngẫu nhiên xuất hiện để vá lỗi nhân sự cho nó.


Dù sở hữu rất nhiều cầu thủ tài năng trong đội hình, nhưng vai trò của hai "mắt bão" là Xavi và Andres Iniesta mới là lý do chủ yếu cho thành công của Tây Ban Nha. Tây Ban Nha không hề thiếu những bộ đôi như cặp tiền vệ của Barcelona này, tiêu biểu như cặp Ruben Baraja và David Albelda của Valencia, bộ đôi hoàn toàn có thể tỏa sáng từ vị trí trung tâm hàng tiền vệ khi đội bóng của họ cần sự đột biến. Juan Carlos Valeron cũng là một cầu thủ đá cánh khác có trình độ không thua kém David Silva bao nhiêu. 

Lý do mà đội bóng của ông Luis Aragones vô địch Euro 2008 là, tất nhiên, sử dụng một tiền vệ trụ ở ngay phía trước hàng hậu vệ. Thực ra, Aragones đã học hỏi rất nhiều từ thất bại của đội hình ba tiền vệ sáng tạo trung tâm là Xavi - Iniesta-Deco của Barcelona. Vấn đề của họ là cần 1 cầu thủ giàu cơ bắp hơn để càn quét và giành quyền kiểm soát bóng: Và hàng tiền vệ Barcelona đã vận hành tốt hơn nhiều nhờ sử dụng Edmilson và Yaya Toure ở vị trí thấp nhất. Sức mạnh phòng thủ của Barcelona được nâng cao  khi có một tiền vệ trụ rõ ràng, và chìa khóa mở ra chiến thắng vẫn là sự hoạt động của Xavi và Iniesta.

Đương nhiên, một điều khá tương đồng đã xảy ra với hệ thống chiến thuật của Tây Ban Nha. Mặt dầu đội hình này có một sự khác biệt so với Barcelona: Sự xuất hiện của Marcos Senna đồng nghĩa với việc Xavi và Iniesta được thả tự do hoàn toàn để tấn công và sáng tạo. Họ có đầy đủ những kỹ năng quan trọng để cầm bóng, tổ chức tấn công và mở bóng ra cánh mà không phá vỡ cấu trúc phòng thủ. Tây Ban Nha đã tạo ra những tiền vệ trung tâm có lối chơi tấn công độc đáo nhất thế giơi, nhưng lại không thể sinh ra những cầu thủ giàu kỷ luật và sức mạnh như Senna, một cầu thủ gốc Brazil.

Như đã đề cập trong phần giới thiệu ở trên, bất kể những toan tính chiến thuật ở trên, người ta vẫn tin rằng Tây Ban Nha sẽ chơi tốt hơn với chỉ 1 tiền đạo duy nhất. Họ đã không thể ghi bàn vào lưới Italia ở tứ kết với bộ đôi tiền đạo Torres-Villa. Đặc biệt, hiệp một tệ hại của sơ đồ 2 tiền đạo trong trận bán kết với Nga kết thúc bằng chấn thương của Villa. Và khi Fabregas vào thay, sơ đồ chiến thuật của Tây Ban Nha biến thành 4-5-1 và họ đã "giã nát" Nga với 3 bàn không gỡ. Trận chung kết, khi Tây Ban Nha không có Villa, là một trận đấu rất ổn, và sai lầm của Đức đã bị Torres trừng phạt bằng bàn thắng duy nhất của trận đấu.


Nghe có vẻ vô lý khi cho rằng việc mất Villa (người đã giành được danh hiệu vua phá lưới mùa đó) là lý do khiến Tây Ban Nha trở nên mạnh hơn, nhưng nếu không phải như thế, thì lý do gì mà họ đã chơi hiệu quả hon nhiều khi chỉ có 1 tiền đạo?

Nền tảng thành công của Tây Ban Nha nằm ở 5 cầu thủ phòng ngự, những người chỉ để lọt lưới 2 bàn trong suốt mùa Euro năm đó, và thậm chí, họ không thủng lưới bàn nào kể từ vòng knock-out. Hai hậu vệ cánh ham mê tấn công là Capdevilla và Ramos khiến các tiền vệ đối phương không dám rời bỏ vị trí. Nhờ đó, không gian hoạt động của Xavi và Iniesta được mở rộng, đồng thời vấn đề luôn luôn lệch cánh của đội hình Tây Ban Nha (David Silva thường xuyên có những pha đảo cánh) được giải quyết rốt ráo bằng những pha dâng cao của hậu vệ cánh.

Tây Ban Nha có một đội hình hoàn toàn vượt trội, và quá xứng đáng để trở thành nhà vô địch.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #8: Đội tuyển Czech, Euro 2004

(Đường dẫn đến khung thành) - Một giai đoạn rất ngắn, nhưng là thời kỳ đáng nhớ nhất của bóng đá cộng hòa Czech. Ở Euro 2004, Czech là một đội bóng sở hữu hàng công thuộc loại xuất sắc nhất thế giới với "ngọn hải đăng" Jan Koller cao đến 6,7 feet (201cm), một tiền đạo siêu tốc là Milan Baros, một cầu thủ kỹ thuật nhất bóng đá châu Âu thời điểm đó là Pavel Nedved, bộ đôi cầu thủ có thể chơi tốt cả khu trung tâm lẫn dạt biên là Poborsky và Rosicky, một cầu thủ kiến thiết lùi sâu là Tomas Galasek và 2 hậu vệ cánh công mạnh thủ tốt.

Khi mà đa số các đội bóng đều chỉ có một "bài" duy nhất, việc thay đổi hệ thống chiến thuật để chống lại là điều hoàn toàn dễ dàng. Nhưng với một đồi hình như của Czech, điều đó gần như là không thể! Họ có quá nhiều các phương án tấn công hoàn toàn khác nhau. Và đó là lý do mà đội bóng của ông Karel Bruckner đã chơi hết sức đẹp mắt. Đó là chưa kể, Czech còn sở hữu 1 thủ môn hàng đầu thế giới và 2 trung vệ thép. Czech ở thời điểm đó là quá mạnh để có thể bị đánh bại.

Lý do mà Bruckner, trong khi sử dụng 2 tiền đạo, lại chuẩn bị đến 3 tiền vệ công là bởi vì không có bất kỳ tiền vệ nào trong số 3 tiền vệ trên là mẫu cầu thủ dửng dưng khi phòng ngự. Rosicky, Nedved và Poborsky đều là những cầu thủ chơi bóng hết sức cần mẫn. Và vì thế, Czech không bao giờ thiếu người ở tuyến giữa.


Đội bóng này cũng là đội bóng đã chiến thắng 3-2 trong trận đấu hay nhất thập kỷ - trận Czech - Hà Lan, trận đấu mà người Hà Lan đã ghi liên tiếp 2 bàn trong 20 phút đầu tiên của hiệp 1.Một buổi tối đã khẳng định được rằng, sức mạnh và bản năng tấn công của đội bóng do ông Bruckner dẫn dắt là khủng khiếp đến như thế nào. Khi bị dẫn 2 bàn trắng và hàng phòng thủ vỡ vụn, Bruckner lập tức đưa một cầu thủ chạy cánh là Smicer vào thay cho hậu vệ cánh là Grygera. Ngay lúc Smicer chưa kịp xuất hiện, Czech đã gỡ lại 1 bàn. Trận đấu vẫn còn 65 phút, Bruckner có quyết định thay người? Tất nhiên là có!

Sự thay đổi này đã giúp Czech chiếm lĩnh được thế trận, nhưng không thể ghi thêm bàn thắng. Và Bruckner tiếp tục đưa ra một phương án táo bạo hơn: Đưa tiền vệ trụ là Galasek ra nghỉ và thay một tiền đạo là Marek Heinz vào. Lúc đó, Czech có 3 tiền đạo, 4 tiền vệ, 1 hậu vệ tấn công cánh, và 2 trung vệ. Vấn đề ở đây là gì? Czech đã thắng trận đầu tiên trong khi Hà Lan chỉ hòa, nên đây không phải là một trận cầu quyết tử của Czech! Họ chỉ cần hòa là ổn!

Bruckner vẫn chưa hài lòng một kết quả hòa sau bàn thắng cân bằng cách biệt của Milan Baros. Trận đấu của thập kỷ được định đoạt khi trận đấu chỉ còn đúng 2 phút: Poborsky chuyền bóng rất đồng đội cho Smicer ghi bàn và Czech lọt vào vòng 2 sau chỉ 2 lượt đấu ở bảng tử thần.

Bruckner thay đổi toàn bộ đội hình trong trận gặp Đức - đội cần 1 chiến thắng để đi tiếp. Và thật bất ngờ! Với phong độ cao ngất, "đội hình 2" của Czech đã đánh bại người Đức và tiễn họ về nước ngay từ vòng bảng.

Họ giã nát Đan Mạnh bằng chiến thắng 3-0 ở tứ kết trước khi đụng độ Hy Lạp. Và tất nhiên, Đây là lúc mà mọi thứ sụp đổ. Nedved (cầu thủ đoạt danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu năm đó, và cũng là trái tim của Czech) gặp chấn thương ở phút thứ 40 và buộc phải rời trận đấu ở thời khắc đáng buồn nhất lịch sử bóng đá hiện đại.

Đương nhiên, đồng đội của anh cũng mất hết tinh thần thi đấu. 52% thời gian kiểm soát bóng, 16/23 tổng số cú sút của cả trận là không đủ. Czech không thể ghi bàn và phải chấp nhận thất bại sau khi Hy Lạp ghi được "bàn thắng bạc" lịch sử.

Đội hình chính của Czech không có quá nhiều thay đổi ở World Cup 2006. Họ bắt đầu chiến dịch với chiến thắng hủy diệt 3-0 trước Mỹ, nhưng cả 2 thẻ đỏ ở 2 trận gặp Ghana và Italia đã đánh gục và tiễn họ ra đi. Euro 2008 thì mọi thứ đã hoàn toàn khác, những cầu thủ của Czech đã ở bên kia sườn dốc sự nghiệp. Và đến World Cup 2010, họ thậm chí còn không vượt qua nổi vòng đấu loại. Euro 2004 đã trở thành quá khứ xa vời với Czech.

Theo một nhận định hoàn toàn chủ quan, đây là đội hình ưa thích nhất của tôi trong thập kỷ này, hãy nhìn cách mà họ chiến đấu với Hà Lan trong một trận đấu không thể tuyệt hơn với 36 cú sút, trong đó có 21 cú trúng đích.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #9: Arsenal, 2001-2004

(Đường dẫn đến khung thành) - Khi mà đa số những lời khen ngợi tập trung vào mùa giải bất bại đã đi vào huyền thoại, người ta gần như đã quên mất rằng Arsenal trong 2 mùa giải trước đó cũng đã làm được những điều hết sức tuyệt vời. Trong mùa giải 2001-2002, Arsenal là đội bóng đầu tiên của kỷ nguyên bóng đá hiện đại lập thành tích bất bại trên sân khác (hẳn nhiên, họ cũng tái thực hiện kỷ lục này 2 năm sau đó), cũng là đội duy nhất trong lịch sử (tính tới thời điểm 2010) ghi bàn trong mọi trận đấu của mùa giải. Năm đó, họ đã lập cú đúp vô địch PL-FA.


Arsenal cũng suýt nữa vô địch luôn Premier League mùa 2002-2003 khi là đội bóng thi đấu hiệu quả nhất mùa giải đó. Nhưng hậu quả của việc không tìm ra một giải pháp thấu đáo cho những rắc rối ngoài sân cỏ đã khiến họ mất  tất cả. Đến mùa giải 2003-2004, Arsenal đã làm nên một mùa giải thần kỳ với 28 trận thắng và 10 trận hòa chỉ riêng ở Premier League. Và với một chút hài hước, 6 năm sau đó, các Pháo thủ thậm chí còn làm được điều đáng kinh ngạc hơn thế khi thua tất cả các trận cầu 6 điểm với các đối thủ trực tiếp ở PL.

Lối chơi của Arsenal trong cả 3 mùa là tương tự nhau. Và với một cách nhìn nhận nào đó, họ là ví dụ đầu tiên cho một hình không tiền đạo: Với Dennis Bergkamp đá thấp hơn và Thierry dạt trái. Điều này khiến cho Arsenal trở nên cực kỳ nguy hiểm trong các đợt phản công. Thêm vào đó, các cầu thủ chạy cánh đích thực là Robert Pires và Freddie Ljungberg, được chỉ đạo thường xuyên xâm nhập vào vòng cấm, đã hoàn toàn thay đổi những quy chuẩn thông thường của một tiền vệ cánh bằng kỷ lục ghi bàn của mình. Patrick Vỉeira đã thi đấu bùng nổ hơn những gì chính anh từng thể hiện. Khi được đá cặp cùng một tiền vệ phòng ngự khác là Gilberto Silva, Vieira được yêu cầu tham gia tấn công nhiều hơnhơn, và hệ quả là, trở nên toàn diện hơn nhiều so với một tiền vệ phòng ngự thuần túy.

Điều thú vị nhất của đội hình này có thể là những nhân tố của hàng phòng thủ Arsenal: Khi lần đầu tiên lọt vào tầm mắt của Arsene Wenger , 3/4 thành viên bộ tứ phòng thủ đó đều chưa từng là hậu vệ: Ashley Cole là một tiền đạo đầy triển vọng của học viện bóng đá trẻ Arsenal, Lauren là tiền vệ trung tâm của Mallorca, và Kolo Toure là một cầu thủ đa năng thường chơi ở vị trí tiền vệ công. Wenger đã biến tất cả bọn họ thành hậu vệ. Và nhờ đó, khả năng điều khiển bóng của Arsenal là tuyệt vời ngay từ hàng hậu vệ.

Một cách hết sức công bằng (khi hậu vệ có kỹ năng kiểm soát bóng và tấn công tốt), tuyến phòng thủ đầu tiên của Arsenal bắt đầu từ hàng tiền đạo: Henry có nhiệm vụ ngăn cản các hậu vệ dâng cao của đối phương, Bergkamp lùi về rất sâu để chơi như một tiền vệ trung tâm khi đối phương có bóng, còn Pires và Ljungberg thì thậm chí còn lùi sâu hơn để chơi như hậu vệ cánh.

Mặc dù Wenger đã mô tả sơ đồ tác chiến của mình là 4-4-2, nhưng tất cả những gì Arsenal thể hiện cho thấy nó gần với 4-2-3-1 kiểu kiểm soát bóng nhiều như thế nào. Thêm nữa, rất khó để cho các đội bóng khác có thể ngăn cản các đợt tất công cánh từ đội hình này khi mà các cầu thủ chạy cánh và hậu vệ cánh cứ liên tục hoán đổi vị trí, chồng cánh, hoặc đơn độc xâm nhập vào vòng cấm một cách đầy bất ngờ. Cánh trái của Arsenal đương thời có thể xem là cánh trái mạnh nhất thế giới trong thập kỷ đó. Nhưng một khi đối thủ dốc toàn lực để đối phó với cánh trái hủy diệt đó (nếu không dốc toàn lực thì không còn hi vọng), thì Ljungberg và Lauren luôn sẵn sàng trừng phạt họ.

Cuối cùng, tôi phải khẳng định rằng thứ bóng đá mà Arsenal trình diễn trong thời gian này là thứ bóng đá thực sự tuyệt vời! "Bóng đá tuyệt đẹp", đó đã trở thành một sáo ngữ khi miêu tả về Arsenal, nhất là trong thời gian gần đây. Nhưng trong khi ngày nay người ta nói về Arsenal rằng: "Arsenal đã không giành được danh hiệu, nhưng..."; thì ngày đó, họ nói: "Arsenal đã có 1 mùa giải bất bại với lối chơi tuyệt vời đến mức không thể tin được"

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #10: Roma, 2000-2001

(Đường dẫn đến khung thành) - Và đây là đội hình đầu tiên, cũng là đội hình xa xưa nhất trong top 10, một chiến dịch giành Scudetto tuyệt vời của Roma vào mùa giải đầu tiên của thập kỷ. Roma đã chơi một thứ bóng đá tuyệt vời với 11 cầu thủ xuất sắc và 1 hệ thống chiến thuật có dấu ấn cá tính HLV (Fabio Capello) rất rõ ràng.

Về một khía cạnh nào đó, người ta hoàn toàn không bất ngờ khi Roma đột nhiên trở thành một thế lực, ứng cử viên nặn ký cho Scudetto khi họ đã bỏ ra đến 50 triệu bảng để mua 3 siêu sao về làm bộ khung chiến thuật cho mùa giải mới: Samuel, Emerson và Batistuta. Tuy nhiên, nhân tố chủ yếu để làm nên mùa giải tuyệt vời của Roma năm đó lại không nằm ở bộ ba nguyên tử này (mặc dù họ cũng thi đấu rất thành công), mà là sự tiến bộ tuyệt vời của các cầu thủ trẻ, những người thậm chí đã vươn lên tầm cỡ thế giới. Vincent Candela từ một hậu vệ trái tầm trung trở thành một hậu vệ tấn công cánh cuồng mãnh, Damiano Tomassi và Cristiano Zanetti đã có những mùa giải đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của mình, và Francesco Totti trở thành một cầu thủ đẳng cấp thể giới thực sự.
Thực sự, nhờ chấn thương nghiêm trọng của Emerson, Tomassi và Zanetti luôn là lựa chọn số 1 cho 2 vị trí tiền vệ trung tâm của Roma cho đến giữa mùa giải. Lối chơi đơn giản, hiệu quả và kỷ luật của cả hai đã tạo điều kiện cho Francesco Totti phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình mà không cần phải lo lắng về những nguy cơ phản công tiềm tàng khi anh bỏ vị trí.

Hai hậu vệ tấn công cánh của Roma đã chơi rất tuyệt suốt mùa giải đó. Bên cánh phải, Cafu, và chỉ một mình Cafu, lên công về thủ như con thoi suốt 90 phú thi đấu mỗi trận, liên tục tắc bóng, liên tục dốc bóng, và liên tục tạt bóng như không biết mệt mỏi. Và bên cánh trái, tuy Candela không thể hiện ấn tượng bằng, nhưng cũng là vị trí hết sức quan trọng cho lối chơi của Roma.

Ở tuyến trên, Batistuta đã chơi mùa giải cuối cùng của đời cầu thủ một cách thực sự xuất sắc, ghi đến 20 bàn thắng trong 28 trận cho đội bóng mới. Nên nhớ, thời gian này, Vua sư tử là vị trí không thể thay thế ở Roma bất chấp gánh nặng tuổi tác.

Phần lớn các sơ đồ chiến thuật ở Serie A thời gian này đơn giản là hoàn toàn lép vế trước hàng công 3 người của Roma. Sơ đồ chiến thuật mà họ sử dụng thực sự quá hiệu quả khi đối đầu với 4-4-2. Với 3 trung vệ, Roma luôn thừa hẳn 1 người khi đối đầu với các tiền đạo đối phương. Hàng ngang tuyến giữa (với 2 hậu vệ tấn công cánh và 2 tiền vệ trung tâm) luôn chơi thấp hơn hẳn 4 tiền vệ đối phương để trực tiếp đối đầu với các đợt tấn công xuất phát từ đây. Totti đóng vai trò là cầu nối giữa 2 tiền đạo với tuyến sau, và nếu đối phương kéo một tiền vệ trụ về kèm anh, thì Tomassi hoặc Zanetti sẽ hoàn toàn trống trải. Đội hình này có khuyết điểm là giải phóng 2 hậu vệ cánh của đối phương, nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả khi cả Cafu lẫn Candela đều chơi phòng thủ rất tỉnh táo, ngoài ra, trong trường hợp 2 hậu vệ cánh chẳng may dâng lên quá cao, 1 trong 3 trung vệ sẽ ngay lập tức dạt cánh để lấp chỗ trống và hàng thủ 4 người tái xuất hiện.

Vấn đề duy nhất mà đội hình này phải đối mặt là vị trí đá cặp với Batistuta trên hàng công. Marco Delvecchio là một tiền đạo mục tiêu (targetman) điển hình nên có khả năng hỗ trợ tốt và rất ít khi ghi bàn, ngược lại, Vincenzo Montella là mẫu tiền đạo tốc độ, một gã thợ săn thực sự với khả năng ghi bàn xuất sắc. Nửa đầu mùa giải, để đảm bảo sự cân bằng cho đội hình, Capello thích dùng Delvecchio hơn, nhưng về sau, hiệu suất ghi bàn tuyệt vời của Montella đã khiến Capello đã không có cách nào gạt anh ra khỏi đội hình xuất phát nữa. Kết quả là, bộ ba tấn công mạnh nhất thập kỷ của Roma đã ra đời.

Đội hình này cũng là đội hình thành công hiếm hoi của hệ thống 3 trung vệ, khi mà cả ba đều hoàn toàn phù hợp với vai trò của mình: Cầu thủ thuận chân trái Samuel là người không thể phù hợp hơn cho vị trí trung vệ lệch trái, anh ta cùng với Zebina, đều làm mẫu cầu thủ có kỹ năng kèm người xuất sắc và thể lực tuyệt vời, trong khi một trong 2 cầu thủ Brazil còn lại, người đóng vai trò là trung vệ thứ 3 (Zago hoặc Aldair) đều là người có khả năng phân phối bóng lên tuyến trên cực tốt.

Những lời cuối cùng phải là những lời tán dương dành cho Totti, tiền đạo đội trưởng mới chỉ 24 tuổi này là cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải vô địch đầu tiên kể từ 1983 của Roma. Anh đã có một năm tuyệt vời nhất mà một cầu thủ có thể tưởng tượng ở vị trí của mình khi liên tục ghi bàn và liên tục kiến tạo. Từ đây, anh trở thành vị trí không thể thay thế ở Roma, một trong những số 10 vĩ đại nhất thập kỷ: "No Totti no party", không một cổ động viên nào của Roma không biết câu khẩu hiệu đó.


Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #11: Valencia, 2001-2004

(Đường dẫn đến khung thành) - Có một số tranh cãi về tác giả của sơ đồ 4-2-3-1, sơ đồ đã trở nên hết sức phổ biến ở châu Âu thời gian gần đây. Sơ đồ này có thể đã xuất hiện vào giữa thập niên 90 của thế kỷ trước cùng với đội hình của Manchester United năm 1994, song giả thiết rằng khởi nguồn của sơ đồ này là từ Arsenal của Arsene Wenger hoặc Real Madrid của John Toshack cũng có cái lý của nó.

Khó khăn của việc xác định cơ sở ban đầu của 4-2-3-1 nằm ở chỗ, nó quá giống với biến thể 4-4-2 mà 3 đội bóng trên sử dụng, với 2 tiền vệ trung tâm thu hồi bóng, 2 cầu thủ chạy cánh nhô cao và một tiền đạo lùi hoạt động rộng. Và 4-2-3-1 hiện đại đã thay đổi từng chút, từng chút một trước khi được tách ra hoàn toàn như là một sơ đồ chiến thuật độc lập với 4-4-2 kiển như đội hình của Rafael Benitez: Sự hồi sinh của sơ đồ chiến thuật 4 tầng với 3 tiền vệ nhô cao rõ ràng đá ngay sau lưng tiền đạo duy nhất.

Bản chất của những khác biệt giữa biến thể 4-2-3-1 với 4-4-2 nằm ở vị trí tiền đạo lùi (hay tiền vệ tấn công trung tâm): Trong khi 3 đội bóng chơi 4-4-2 nêu trên sử dụng các tiền đạo lần lượt là Eric Cantona, Dennis Bergkamp và Raul, thì Benitez lại tin tưởng vào một tiền vệ tấn công, cầu thủ thấp bé có biệt danh "Maradona mới" của bóng đá hiện đại, Pablo Aimar. Và vì thế, Valencia đã chơi với 5 tiền vệ.

Đội hình đăng quang La Liga mùa giải 2001-2002, nói thẳng ra, là đội hình vô địch có lối chơi tẻ nhạt nhất trong suốt thập kỷ qua ở Tây Ban Nha. Thành tích 51 bàn/38 trận đấu có thể là thành tích nực cười với một nhà vô địch (4 đội còn lại trong top 5 mùa đó đều ghi nhiều hơn 63 bàn), nhưng đó cũng là minh chứng cho một thực tế, rằng đội hình Valencia đã được tổ chức quá tốt: Bậc thầy trong những chiến thắng sít sao 1-0.

Vấn đề quan trọng trong chiến thuật của Valencia là việc sở hữu đến 3 tiền vệ trung tâm trong khi 19 đội bóng còn lại ở La Liga chỉ dùng 2 người. Valencia hiếm khi mất bóng, và một khi mất bóng thì họ sẽ nhanh chóng thiết lập hàng rào 9 người án ngữ trước khung thành. 

Với chiến thuật trên, tiền đạo có thể không được hỗ trợ tốt, nhưng Mista, tiền đạo được Benitez mang về từ đội trẻ Real Madrid, đã có một mùa giải xuất sắc vượt xa những gì được trông đợi.

Ruben Baraja và David Albelda được đánh giá là cặp tiền vệ trung tâm thi đấu ăn ý nhất thập kỷ: Cả 2 đều có khả năng chọn vị trí tuyệt vời cũng như tung ra những đường chuyền thông minh cho đồng đội. Baraja đôi khi cũng được yêu cầu dâng cao hỗ trợ tấn công và dứt điểm khi cần, nhưng thường thì Valencia chỉ tấn công với 4 người.

Đội hình này cũng đã vô địch La Liga lần thứ 2, đồng thời cũng đoạt luôn UEFA Cup, vào mùa giải 2003-2004 với rất ít sự thay đổi về mặt nhân sự. Mùa giải đó, Valencia đã chứng minh cho thế giới rằng, 4-2-3-1 không đơn thuần là một sơ đồ phòng ngự khi Benitez quyết định đẩy cao đội hình: Họ chỉ để lọt lưới bằng đúng số bàn thua trong mùa 2001-2002 (27 bàn), những lại ghi nhiều hơn trước 20 bàn, chỉ thua 1 bàn so với đội bóng tấn công hiệu quả nhất La Liga mùa đó là Real Madrid. Mista tiến bộ rõ rệt trong khi Vicente ngày một hoàn thiện hơn kỹ năng dứt điểm. Valencia, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là đội bóng hùng mạnh nhất Tây Ban Nha thời gian đó.
Ở UEFA Cup, thành tích không mấy ngoạn mục (so với ở La Liga) của Valencia kết thúc bằng chiến thắng tẻ nhạt 2-0 trước Marseille trong trận chung kết: Fabien Barthez phạm lỗi với Mista trong vòng cấm, Vicente ghi bàn trên chấm Penalty, rồi Mista ấn định tỷ số 2-0, chấm dứt mọi hi vọng của Marseille, và chấm dứt cả thời gian làm HLV Valencia của Benitez.


Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #12: Đội tuyển Brazil, World Cup 2002

(Đường dẫn đến khung thành) - Những gì mà một Brazil "như mớ hỗn độn" vài tháng trước khi vòng chung kết World Cup 2002 diễn ra thể hiện thực sự rất đáng quên. Họ đã có một chiến dịch vòng bảng tệ hại chưa từng thấy trong khi Luiz Felipe Scolari chỉ mới bắt đầu dẫn dắt từ tháng 6-2001, thời gian mà Brazil còn đang phải khổ chiến bên ngoài vị trí các đội đủ điều kiện tham gia vòng chung kết. Scolari đã gặp khó khăn thực sự, ông đã để thua trận đầu tiên, nhưng đội bóng của ông đã may mắn giành được suất đến Nhật - Hàn khi chỉ có thêm vẻn vẹn 3 điểm.


Một điều khá kỳ lạ về đội hình vô địch thể giới năm 2002 này là, chấn thương bí ẩn của Emerson ngay trước trận đầu tiên đã khiến cặp tiền vệ trung tâm (và cùng với nó là cả đội hình) phải được bố trí lại. Kế hoạch ban đầu của Scolari là sử dụng Emerson làm tiền vệ trụ để cầu thủ đá cặp với anh là Juninho Paulista thi đấu tự do hơn. Nhưng chấn thương vai khi tập luyện ở vị trí thủ môn của Emerson đã làm thay đổi tất cả. Kleberson đã được gọi vào thay thế, và Gilberto Silva trở thành tiền vệ trụ (đây là điều mà chính bản thân Silva cũng cảm thấy bất ngờ) đá cặp với Juninho.

Đó là cách mà Brazil đã chơi trong vài trận đấu đầu tiên, với Gilberto thi đấu giống với vai trò của Dunga ở World Cup 1994 và 1998, và Juninho làm nhiệm vụ nối kết với tuyến trên. Đến giữa trận đấu với Bỉ ở vòng 2, Scolari quyết định thay Juninho (cầu thủ chơi hay nhất của Brazil trong trận đó) bằng Denlison (một cầu thủ có khả năng tấn công tốt hơn) và Brazil tiếp tục giành chiến thắng.
Không ai có thể đưa ra được một lý do hoàn toàn thuyết phục cho quyết định thay Juninho bằng Kleberson (một tiền vệ phòng ngự) để đá cặp với Gilberto Silva của Scolari khi mà Brazil không cần thêm bất kỳ một tiền vệ trụ nào để đối đầu với hàng tiền vệ 4 người của tuyển Anh là Beckham - Butt - Scholes - Sinclair. Nhưng rốt cục Brazil vẫn thắng, và Kleberson đã lấy luôn vị trí của Juninho cho đến hết giải, thậm chí còn là cầu thủ chơi hay nhất của Brazil trong trận chung kết. Phải chăng Scolari đã nghĩ rằng Gilberto không linh hoạt như Emerson? Hay ông lo lắng trước sức mạnh của tuyến tiền vệ Bỉ?

Mặt khác, đội hình này đã thể hiện một thứ bóng đá tuyệt vời. Sơ đồ 3-4-1-2 đã khai thác được tối đa sức mạnh của bộ ba tấn công xuất sắc nhất giải là Ronaldo - Rivaldo - Ronaldinho, trong đó, Ronaldo đá cao nhất, Rivaldo đóng vai trò hộ công, và Ronaldinho đá thấp nhất để nhận bóng.
Các cầu thủ đá cánh là Cafu và Roberto Carlos đã thi đấu như một wing-back (hậu vệ tấn công cánh) hơn là một full-back (hậu vệ cánh) khi liên tục dâng cao hỗ trọ tấn công.

Hàng thủ 3 người của Brazil cũng đã thi đấu rất tuyệt vời mặc dù Roque Junior thi đấu quá tệ hại. Một trong 2 trung vệ còn lại, thường là Edmilson, thi đấu như một hậu vệ quét có nhiệm vụ tung những đường chuyền vượt tuyến từ sân nhà, đường chuyền dẫn đến bàn thắng tuyệt đẹp vào lưới Costa Rica là một trong những ví dụ cụ thể.

World Cup năm đó không phải là một giải đấu thực sự hấp dẫn, và Brazil năm đó cũng không bao giờ là lứa cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử. Nhưng bằng một cách nào đó, Scolari đã tạo ra một sản phẩm tuyệt vời từ một đội bóng mà chỉ 12 tháng trước đó còn là một đống hổ lỗn những gã mất phương hướng và vô kỷ luật. Báo giới Anh quốc đã sai lầm khi cho rằng cách tốt nhất để cho Brazil mạnh hơn là dồn càng nhiều cầu thủ sáng tạo vào đội hình càng tốt. Ngược lại, Brazil đã thể hiện rằng họ nguy hiểm như thế nào khi thi đấu một cách chắc chắn và kỷ luật. Việc chỉ để cho hai, hoặc ba cầu thủ có lối chơi tinh tế nhất nhất được thể hiện sức sáng tạo của mình khiến Brazil không cần phải lo lắng chuyện mất cân bằng đội hình hay các vấn đề về phòng ngự khác

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #13: Chelsea, 2004 - 2006

(Đường dẫn đến khung thành) - Mọi người đều nhớ thành tích bất bại của Arsenal trong mùa giải 2003-2004, nhưng chẳng mấy ai để ý rằng, vào mùa giải ngay sau đó, Chelsea chỉ thua đúng 1 trận, thất bại bất ngờ 0-1 trước Manchester City.

Jose Mourinho trong thời gian đó đã được thừa hưởng mội đội hình tuyệt vời, với những bản hợp đồng chất lượng vào mùa hè đó như Didier Drogba, Cech, Carvalho, và Ferreira, những nhân tố quan trọng trong chiến thắng thuyết phục của Chelsea trong mùa giải 2004-2005, bỏ xa đội nhì bảng là Arsenal với 12 điểm. Mùa giải đó, Chelsea cũng đã lập kỷ lục về số bàn thua ít nhất trong một mùa Premier League với chỉ 15 pha lọt lưới trong 38 trận, trong đó có đến 25 trận giữ sạch lưới.

Chelsea tiếp tục bảo vệ được danh hiệu vô địch vào mùa giải sau đó, thua nhiều hơn 4 trận so với mùa trước, nhưng lại lập được kỷ lục bất bại trên sân nhà với chỉ 1 trận hòa duy nhất với Charlton. Mùa giải đó, tuy tỷ lệ cầm bóng không cao, nhưng Chelsea đã chơi một thứ bóng đá tấn công trải rộng hơn nhiều so với mùa giải trước (mặc dù số bàn thắng ghi được là không khác).

Mourinho đã sử dụng sơ đồ 4-3-3 rất hiệu quả nhờ sự phổ biến của sơ đồ 4-4-2 ở Anh vào thời điểm đó. Mourinho nói:
"Hãy nhìn xem! Nếu tôi có một tam giác tiền vệ với Claude Makelele chơi thấp nhất, tôi sẽ luôn có lợi thế trong các cuộc đối đầu với 2 tiền vệ trung tâm đứng ngang hàng trong sơ đồ 4-4-2 thuần túy. Lý do là chúng tôi luôn nhiều hơn họ 1 người. Nếu những đợt tấn công bắt nguồn từ Makelele, ai sẽ cản anh ta? Nếu không có ai, thì Makelele mặt nhiên sẽ có thừa thời gian để quan sát toàn bộ sân đấu và lựa chọn cách tất công tối ưu. Nếu có người áp sát ngay lập tức, thì ít nhất 1 trong 2 tiền vệ trung tâm còn lại sẽ hoàn toàn tự do. Nếu họ kéo các cầu thủ từ hai bên cánh vào thì những cầu thủ chạy cánh, hoặc hậu vệ cánh của tôi sẽ xé toạc cánh đó ra. Không có cơ hội nào để cho 4-4-2 thuần túy có thể đánh bại chúng tôi!"










Lời phát biểu trên là một tổng kết hoàn hảo cho những ưu thế mà hàng tiền vệ 3 người khi đối đầu với 4-4-2 truyền thống, đủ để bất kỳ một câu phân tích cụ thể hơn về vấn đề này trở nên ngốc nghếch.

Nhưng có lẽ phải bổ sung (đúng ra là nhấn mạnh) thêm một chút, Mourinho nói về một tiền vệ "bổ sung", có nghĩa là, ông đang ngầm khẳng định khả năng thu hút cả 2 trung vệ của tiền đạo cắm duy nhất trong sơ đồ này. Và đó mới là yếu tố quyết định.

Một vấn đề khác trong hệ thống chiến thuật của Chelsea thời gian này là nhiệm vụ hỗ trợ tấn công của các hậu vệ cánh, những người được yêu cầu tạt bóng vào trong nhiều hơn là xâm nhập ghi bàn. Các cầu thủ chạy cánh trở thành lá chắn, thành "chim mồi" để kiến tạo không gian băng lên cho các hậu vệ cánh, những người sẽ tung đường chuyền quyết định cho Drogba ở bên trong.

Thêm nữa, Mourinho sẵn sàng sử dụng tiền đạo là Eidur Gudjohnsen  như là một tiền vệ hỗ trợ chơi bên cạnh Frank Lampard để biến sơ đồ 4-3-3 thành 4-1-4-1. Và điều thú vị ở đây là, Frank Lampard đã có thể chơi tốt ngay cả khi phải đá cặp với một cầu thủ có thiên hướng tấn công nhiều hơn cả anh. 

Mourinho muốn các cầu thủ chạy cánh của mình phải đảo cánh liên tục. Và Arjen Robben cộng với Joe Cole đã làm tốt hơn nhiều so với Damien Duff hoặc Shaun Wright-Phillips, đặc biệt là cầu thủ người Hà Lan: anh ta đơn giản là không thể ngăn chặn.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More