Xabi Alonso - người hùng thầm lặng

Tiền vệ ngôi sao của tuyển Tây Ban Nha và Real Madird Xabi Alonso tên thật là Xabier Alonso Olano là một đứa con của xứ Basque, Tây Ban Nha.

Tiền vệ tấn công: Biểu tượng của sự hoa mỹ

Bài viết thứ 2 trong loạt bài về vị trí và vai trò cầu thủ...

Bóng đá tổng lực

Một khái niệm về hệ thống chiến thuật nổi tiếng gắn với thương hiệu của "Những người Hà Lan bay...

Catenaccio

Hệ thống phòng ngự kinh điển từng đưa Inter Milan và tuyển Italia lên đỉnh cao thế giới

WM: Luật việt vị và cuộc cách mạng chiến thuật

Điều gì đã tạo nên tên tuổi của 1 HLV được xem là vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Anh?

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Papadopoulos có phải là một vụ chuyển nhượng mạo hiểm?

(Đường dẫn đến khung thành) - Khi mà tương lai của Suarez vẫn còn rối như tơ vò, Brendan Rodgers rõ ràng có rất nhiều lý do để tăng cường sức mạnh đội hình, chí ít là để đội bóng của ông bớt phụ thuộc vào (và từ đó là bớt tổn thất vì sự ra đi của) tiền đạo người Uruquay này.

Hẳn nhiên, trong tương lai, nếu như Suarez ra đi, Hàng công Liverpool sẽ thực sự gặp vấn đề khi Sturridge, Borini và hạn hữu là Luis Alberto đều... chưa lớn và Gerrard thì không còn sung mãn như thời gian trước. Nhưng trong thời điểm hiện tại, vị trí trung vệ mới là nơi đáng được bổ sung đầu tiên: Đội bóng vùng Merseyside mới chỉ mang về đúng một mình lão tướng Kolo Toure để lấp vào vị trí mà Jamie Carragher bỏ lại, trong khi Brendan Rodgers thì lại đang muốn tống Martin Skrtel sang Napoli của Rafa Benitez.

Tôi không cho rằng Brendan Rodgers lại dám liều lĩnh sử dụng thường xuyên một cầu thủ đã 32 tuổi như Kolo Toure cho một trong hai vị trí trung vệ, vốn đã không lấy gì làm mạnh mẽ của mình, và những cầu thủ kiểu như Coady thì...còn lâu mới lớn. Liverpool cũng có vẻ như không có tiền để mua một ngôi sao thực sự (một ngôi sao có lẽ cũng sẽ khó chấp nhận đến đây khi mà đội bóng này sẽ không được tham dự giải châu Âu mùa sau). Vì thế, hợp đồng mượn trung vệ trẻ (và đang phát triển tốt kiểu như Papadopoulos) với điều khoản mua đứt vào năm sau có thể sẽ là chính sách chuyển nhượng của Liverpool lúc này.

Papadopoulos là một chiến binh bẩm sinh. Nhưng bóng đá Hi Lạp không bao giờ thiếu thốn những chiến binh như thế. Chỉ 10 trận thi đấu chính thức cho Olympiakos, Papadopoulos đã đến Bundesliga từ một quyết định đầy mạo hiểm của Schalke. Từ đó đến nay, trung vệ trẻ này cũng đã có 16 trận thi đấu quốc tế, ghi được 4 bàn thắng.

Nhưng cổ động viên của The Reds cũng có cớ để an lòng khi chí ít, Papadopoulos là mẫu người khao khát thi đấu đỉnh cao thực sự chứ không phải loại chơi bóng chỉ vì tiền như rất nhiều cầu thủ trẻ hiện nay. Anh từng từ chối lời đề nghị từ gã nhà giàu Zenit St. Peterburg để ở lại Bundesliga. Và mặc dù Liverpool không được chơi ở giải châu Âu mùa tới, việc chuyển đến Anfield vẫn sẽ là một bước tiến lớn trong sự nghiệp của cầu thủ trẻ này.

Papadopoulos chỉ xuất hiện được đúng 10 trận trong suốt mùa giải trước vì chấn thương. Nhưng phong độ của anh khi trở lại là thực sự thuyết phục.


Thứ nhất, sức mạnh và khả năng bật cao của cầu thủ trẻ này khiến nhiều người tưởng rằng anh ta còn cao hơn nhiều so với 6'' chiều cao thực tế (tương đương khoảng 183cm), hệ quả là, hết tiền đạo này tới tiền đạo khác bị anh đánh bại mỗi khi tranh chấp bóng bổng (giành chiến thắng đến 83.3% các pha tranh chấp). Thống kê cho thấy chỉ có 3 trên tổng số tất cả các trung vệ có ít nhất 10 trận thi đấu chính thức ở 5 giải đấu hàng đầu châu Âu mùa giải trước là có tỷ lệ chiến thắng bóng bổng tốt hơn trung vệ này. Nếu thực hiện một so sánh nhỏ, thì thành tích chiến thắng trung bình 3 pha tranh chấp trên không mỗi trận của anh thậm chí còn tốt hơn cả trung vệ tốt nhất của Liverpool hiện tại, người sẽ đá cặp với anh trong trường hợp chuyển đến Anfield là Daniel Agger.

Thứ hai, ở Bundesliga chỉ có Kiesling và Mandzukic là có tỷ lệ đánh đầu mỗi trận cao hơn Papadopoulos (0.8 pha/trận). Cộng thêm trung bình 1 cú sút/trận, anh thậm chí còn làm tốt hơn cả 2 trung vệ hàng đầu của Đức là Naldo và Hummels. Khả năng đó sẽ là sự bổ sung tuyệt vời cho một đội hình chỉ ghi được 15.5% số bàn thắng từ 57 pha cố định (thấp thứ tư PL) như Liverpool.

Đương nhiên, một thống kê trung bình chỉ dựa vào 10 trận thi đấu chính thức thì rất dễ không chính xác. Nhưng trong mùa giải trước đó, mùa giải mà Papadopoulos chỉ bỏ lỡ đúng 5 trận, trung vệ mới 20 tuổi (vào thời điểm đó) này cũng đã thể hiện những phẩm chất tuyệt vời và khả năng tiến bộ thần tốc của mình. Tỷ lệ tắc bóng trung bình của anh mùa giải trên là 3.7 pha/trận và tỷ lệ chặn bóng trung bình là 4.1 pha/trận. Mùa đó, chỉ có 4 cầu thủ có tỷ lệ tắc bóng tốt hơn như thế ở Bundesliga.

Trong mùa giải gần nhất, tỷ lệ chặn bóng của Papadopoulos giảm xuống còn 2.9 pha/trận, nhưng khả năng chuyền bóng lại ấn tượng hơn (và đây có lẽ là lý do chủ yếu để Rodgers muốn có anh): Trung bình 38.8 đường chuyền/trận vói độ chính xác 80.2% đã tăng vọt lên thành 53.8 và 89%. Chỉ có 10 cầu thủ thi đấu ít nhất 10 trận ở Bundesliga là có tỷ lệ ấn tượng hơn, và 8/10 cầu thủ đó là người của Bayern Munich.

Bất chấp bị chấn thương chen ngang, trang web WhoScored.com vẫn đánh giá anh là trung vệ thi đấu hiệu quả nhất Bundesliga với 7.45 điểm. Và hẳn nhiên, vì anh chỉ vừa mới bắt đầu tập luyện trở lại, anh cần phải mau chóng là chính mình nếu muốn nửa đỏ của Merseyside xúc tiến thương vụ sẽ đưa anh đến bóng đá đỉnh cao này.


Trúc Phong
Đường dẫn đến khung thành

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

[Positions series] Tiền vệ trung tâm - chìa khóa sức mạnh mọi đội bóng

(Đường dẫn đến khung thành) - Series này được bắt đầu bằng loạt vị trí phức tạp nhất của hệ thống bóng đá hiện đại: Các vị trí tiền vệ trung tâm.


1. Tiền vệ và tiền vệ trung tâm:

Vì là bài viết đầu tiên của tuyến tiền vệ, cũng là bài đầu tiên trong series, tôi sẽ lần lượt điểm qua về vị trí tiền vệ trước khi đề cập đến những vị trí của tiền vệ trung tâm.

1.1. Tiền vệ:

Tiền vệ là những vị trí nằm ở giữa đội hình thi đấu theo chiều dọc, khu vực hoạt động chủ yếu là ngay sau các tiền đạo và trên hậu vệ. Trong đa số các bảng biểu diễn chiến thuật, người ta dùng màu xanh dương để phân biệt tiền vệ với các vị trí khác. Các tiền vệ trong một số trường hợp cũng được yêu cầu đá rất thấp để tập trung bảo vệ khung thành hoặc trực tiếp ghi bàn, nhưng nhiệm vụ chính của họ vẫn là điều tiết lối chơi, tổ chức phòng ngự từ xa và phát động tấn công. Với bóng đá hiện đại, tiền vệ quan trọng đến nỗi: "Không có bất kỳ một đội hình mạnh mẽ nào không sở hữu ít nhất một tiền vệ xuất sắc". Nói cách khác, không có tiền vệ xuất sắc nào trong đội hình thì không có cách nào để vươn lên trở thành một đội bóng xuất sắc.

Cùng với sự phát triển của hệ thống chiến thuật hiện đại, số lượng và chất lượng của các tiền vệ không ngừng được nâng cao. Việc phân loại tiền vệ từ đó cũng trở nên phức tạp hơn. Dưới đây, chúng tôi chỉ liệt kê một vài mẫu tiền vệ điển hình và có sức ảnh hưởng tương đối lớn với sự hình thành và phát triển chiến thuật.

1.2. Tiền vệ trung tâm:

Tôi không nghĩ rằng một đội bóng nào đó lại có thể thành công với một sơ đồ không tiền vệ trung tâm. Trung tâm là khu vực quan trọng nhất của sân đấu: Là ngả đường nối kết toàn bộ hệ thống công - thủ. Từ khu vực này, người ta có thể dễ dàng mở bóng ra hai cánh, đâm thẳng vào trung lộ, chủ động phá vỡ mọi hướng tấn công của đối thủ... Tất cả mọi phương án tác chiến đều phải đi qua khu vực huyết mạch này, kể các các chiến thuật phản công vượt tuyến hoặc khoét cánh.


Chính vì yêu cầu hết sức quan trọng đó, vị trí trung tâm luôn yêu cầu những cá nhân có thể lực, kỹ thuật và nhãn quan chiến thuật cực tốt, thậm chí là tốt nhất, và là nhân tố chủ yếu để đánh giá sức mạnh toàn đội (hẳn nhiên khi đội bóng có những siêu sao thuộc vị trí khác thì mọi chuyện lại hoàn toàn khác). Barcelona và Real Madrid của Tây Ban Nha, Arsenal, Man City của Anh, Juventus, AC Milan, Inter Milan của Ý, Bayern Munich, Dortmund của Đức... đều là những ví dụ tương đối rõ ràng.

Manchester United có thể là một ngoại lệ: Cả Darren Fletcher, Anderson, Michael Carrick... đều là những cầu thủ... thường thường bậc trung so với trình độ của đội. Thực ra, cả 3 tiền vệ này đều có khả năng chuyên môn rất cao, nhưng so với một đội bóng đã 6 lần vô địch Premier League, đoạt 1 cup FA, 3 cup Liên đoàn, 5 Siêu cup nước Anh, 1 cup Champions League và 1 cup thế giới các CLB trong 10 năm trở lại đây thì có chút... không tương xứng.

2. Các mẫu tiền vệ trung tâm trong bóng đá hiện đại:

2.1. Tiền vệ toàn diện trung tâm (Center Midfielder)

Mẫu tiền vệ này ngày một ít xuất hiện hơn trên bản đồ bóng đá đỉnh cao. Đây có thể là một điểm tiến bộ khi mà bóng đá ngày càng trở nên phức tạp, biến hóa, và mang tính chuyên biệt cao hơn còn tiền vệ toàn diên trung tâm thì lại quá... toàn diện.

Trong quá khứ, các tiền vệ toàn diện trung tâm không chỉ được xem là "mắt bão", tổ chức tất cả các đợt tấn công, mà còn là vị chỉ huy của hệ thống phòng ngự. Chơi ở vị trí trung tâm vốn đã rất khó khăn và chênh vênh "như đi trên dây, nghiêng một chút là ngã", nhiệm vụ tiền vệ toàn diện trung tâm lại càng khó khăn. Và khi mà tốc độ, sức mạnh trong mỗi trận đấu cũng mật độ thi đấu tăng cao, các cầu thủ tiền vệ toàn diện trung tâm "kiểu cổ" đã không còn đủ khả năng để làm chủ trận đấu, hoặc ít nhất là giữ được phong độ ổn định để làm chỗ dựa tinh thần cho cả đội nữa. Thậm chí, họ còn trở thành gánh nặng cho 10 cầu thủ còn lại vì áp lực và yêu cầu quá lớn của chiến thuật.

Với bóng đá hiện đại, vai trò của vị trí tiền vệ toàn diện trung tâm đã hoàn toàn thay đổi so với trước đó. Nói 1 cách ngắn gọn, tiền vệ toàn diện trung tâm là 1 tổng hòa của tất cả các vị trí tiền vệ trung tâm. Họ không còn công thủ "toàn diện" đúng như tên gọi của mình thời gian trước đó nữa, mà bắt đầu tùy biến liên tục theo yêu cầu chiến thuật của từng HLV một: Giới hạn tối đa sức sáng tạo, trám vào chỗ trống khu trung tuyến, triển khai bóng, di chuyển mở rộng không gian hoặc duy trì cự ly giữa các tuyến, hỗ trợ công thủ .v.v. Khu vực hoạt động bị thu hẹp khá nhiều so với trước, chỉ vào khoảng 1/2 chiều dài đội hình toàn đội (chứ không phải chiều dài sân), các tiền vệ toàn diện kiểu mới này ban đầu được hiểu như là cầu nối đơn thuần giữa các tuyến.

Từ những biến đổi thiếu hệ thống, người ta dần dần xác định nhiệm vụ cụ thể của mẫu tiền vệ toàn diện trung tâm kiểu mới thành hai loại: Mẫu tiền vệ điều phối bóng và mẫu tiền vệ đinh móc.

Đặc điểm chung để vẫn giữ cả 2 loại tiền vệ này trong 1 khái niệm tiền vệ toàn diện trung tâm là nhờ khả năng "làm cầu nối" với tỷ lệ chuyền bóng (và chuyền bóng chính xác) cao đặc biệt. Một vài biến thể nhỏ lẻ của cả 2 có thể ít chuyền bóng hơn, và di chuyển không bóng nhiều hơn, nhưng vẫn thống nhất về vai trò.

Mẫu tiền vệ ít được quan tâm hơn (và là một trong những lý do khiến họ ngày càng ít được trọng dụng là tiền vệ đinh móc. Tiền vệ đinh móc (khái niệm tôi sử dụng từ bài viết "Denilson - Nếu không như Falcao thì thực sự anh là ... ai ?" đăng tại arsenal.com.vn ). Mẫu tiền vệ này là vị trí theo chủ nghĩa cầu toàn nhất thế giới: Khi có bóng, họ đơn thuần chỉ là đầu mối trung chuyển của tuyến tiền vệ, đưa bóng từ một vị trí phòng thủ sang vị trí phát động tấn công, kéo bóng từ vị trí bị tranh chấp vào khu vực an toàn, còn khi mất bóng, thì những "cái đinh móc" này sẽ là người "kềm chân thuần túy" các đợt tấn công của đối thủ để tuyến sau tái lập phòng thủ. Họ it khi mất bóng bởi vì không bao giờ mạo hiểm (và cũng không được phép mạo hiểm), ít khi chuyền bóng hỏng vì không có nhu cầu chuyền bóng vào khu vực đông đối thủ... Nói chung, đó là những người xuất sắc trên bảng thống kê và tệ hại trong biểu hiện thực tế.

Diaby là một trong những cầu thủ thi đấu khá tốt ở vị trí "đinh móc"
Một số cầu thủ đinh móc không trực tiếp chuyền bóng nhưng vẫn đảm nhiệm nhiệm vụ cầu nối bằng cách di chuyển không bóng, tự tạo không gian và giải phóng cho các đường chuyền của đồng đội. Những người này ít khi cầm bóng, và bị hạn chế dốc bóng nên thực sự "rất thầm lặng" trên các bảng thống kê cũng như biểu hiện thực tế.

Mẫu tiền vệ được chú trọng phát triển hơn, và thực sự rất được ưa thích hiện nay là tiền vệ toàn diện kiểu điều phối bóng. Loại tiền vệ này khiến rất nhiều người liên tưởng đến tiền vệ phòng ngự dạng điều phối bóng kiểu Brazil (Volante) hoặc tiền vệ kiến thiết trung tâm. Cũng phải! Vì họ là điểm giao thoa giữa 2 loại tiền vệ này. Các tiền vệ điều phối bóng này đôi khi tự phát động tấn công bằng những đường chuyền vượt tuyến như các tiền vệ kiến thiết và kiến thiết lùi sâu, hoặc giữ thói quen phòng ngự chủ động khi mất bóng, cũng như đẩy bóng ra hai biên khi có bóng tương tự như các Volante. Nhưng họ không phải là những người được yêu cầu chỉ huy phòng thủ như Volante hoặc tấn công như tiền vệ kiến thiết. 

Xabi Alonso - tiền vệ điều phối hàng đầu
Nhiệm vụ cầu nối bằng những đường chuyền có độ chính xác cao trải đều khắp các vị trí khiến các tiền vệ này trở nên thực sự đặc biệt: Không cần biết các cầu thủ khác đang nằm ở đâu, những cầu thủ này bị buộc phải thực hiện 2 nhiệm vụ là đứng cố định trong khu trung tâm để không làm vỡ đội hình phòng thủ và tung những đường chuyền chinh xác để nối kết với nhà tổ chức tấn công đang nằm đâu đó phía trên. Nếu như vị trí đinh móc di chuyển để giữ cự ly, các cầu thủ điều phối bóng dùng đường chuyền của mình để làm điều đó.

Tôi từng có cảm giác là một tiền vệ điều phối như Xabi Alonso sẽ gặp khó khăn khi phải chơi bên cạnh một tiền vệ kiến thiết trung tâm như Xavi thay vì một cầu thủ chơi rộng hơn như Gerrard ở Liverpool hay cao hơn như Özil ở Real. Nhưng thực tế thì cả hai cầu thủ này đã phối hợp rất tốt ở đội tuyển. Đương nhiên, đó là khi Alonso được yêu cầu đá thấp hơn một chút và Xavi thì lại quay ngược lại sử dụng những đường chuyền dài của anh cho những sáng tạo của mình.

2.2. Tiền vệ kiến thiết trung tâm (Playmaker):

Với khả năng của bộ đôi Xavi - Iniesta, mà tiền thân gần gũi nhất là Pep Guardiola (xa hơn, và nổi danh hơn là Luis ‘Luisito’ Suarez), không còn nghi ngờ gì nữa, Tây Ban Nha chính là quê hương của mẫu tiền vệ kiến thiết trung tâm đặc biệt hàng đầu thế giới. Các tiền vệ này không phải là những người được giao trách nhiệm phòng thủ! Họ không có đủ kỹ năng và thể lực để có thể gây khó khăn cho những cầu thủ tấn công thực sự xuất sắc của đối thủ nhưng lại có thừa khả năng sáng tạo, nhãn quan chiến thuật và những kỹ năng xuất chúng để tung những đường chuyền phá vỡ hệ thống phòng ngự của đối phương. 

Xavi
Khác với các tiền vệ tấn công thuần túy, những người chịu trách nhiệm tổ chức tấn công ở vị trí tương đối cao trong đội hình (ở vào khoảng 4/5), những cầu thủ kiến thiết trung tâm thường có thể hình không lý tưởng này được an toàn trước các trung vệ cao to của đối thủ, nhờ đó, họ có nhiều không gian hơn để phát huy tối đa khả năng của những đường chuyền, từ tầm ngắn và trung bình (cho các tiền đạo lùi, tiền vệ tấn công, hoặc tiền vệ cánh) đến các pha bóng vượt tuyến cho các tiền đạo cắm (điều này có lẽ dễ gặp hơn ở Deco - một người Bồ Đào Nha - thay vì Xavi). Không khó hiểu khi những người như Xavi, và trước đó là Guardiola lại đạt đến đỉnh cao sự nghiệp ở... tuổi băm.

Một vài tiền vệ kiến thiết trung tâm được cho phép hoạt động tự do ở một vị trí cao hơn (như Iniesta ở vị trí khoảng 3,5/5 đội hình) để giữ cự ly, kết nối tuyến trên hoặc dốc bóng đột phá như một "tiền vệ số 10 dạng chăm chỉ" (ở vị trí thấp hơn), tuy nhiên, xét về vị trí và cường độ vận động, họ vẫn không thể được xem là một tiền vệ tấn công thực sự, mà chỉ là tiền vệ trung tâm nhô cao mà thôi!

Iniesta
Hẳn nhiên, việc bố trí một nhân tố không có nhiều kỹ năng phòng thủ như tiền vệ kiến thiết trung tâm vào đội hình có thể là một quyết định mạo hiểm. Vì thế, trong cơn ám ảnh về bộ đôi nghệ sĩ kiến tạo và kẻ hủy diệt của bóng đá châu Âu, tiền vệ kiến thiết trung tâm đã từng bị vị trí "số 10" (với vị trí thi đấu cao hơn, nguy hiểm hơn cho đối thủ và an toàn hơn cho đội nhà) hủy diệt cơ hội chơi bóng đỉnh cao. Việc Pep Guardiola phải từ giã sự nghiệp ngay ở giai đoạn đỉnh cao sự nghiệp là bằng chứng hiệu quả nhất.

Bài báo của Gabriele Marcotti trên The Times viết nhân dịp Pep treo giày có đoạn:

“Những kĩ năng chơi bóng như kiểu anh ấy đã lỗi thời… Bóng đá hiện đại đã khép cánh cửa đối với những cầu thủ dạng Guardiola… mặc dù đang chơi thứ bóng thăng hoa nhất trong sự nghiệp, không có chỗ nào dành cho anh ấy… Thật đáng suy nghĩ, một hình mẫu phức tạp của những cầu thủ qua ví dụ về Pep khiến cho những fan hâm mộ nhỏ tuổi bị mất phương hướng và thất vọng”
Nhưng mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi vào những năm cuối cùng của thập kỷ trước, khi mà Barcelona và Tây Ban Nha, với bộ đôi tiền vệ kiến thiết trung tâm Xavi-Iniesta đã giành được hết danh hiệu này đến danh hiệu khác một cách hoàn toàn thuyết phục. Điều này có thể được lý giải bằng sự lên ngôi của sơ đồ 3 tiền vệ trung tâm, tăng cường sức mạnh cho tuyến giữa, giải phóng ít nhất một vị trí trung tâm khỏi áp lực phòng thủ nhờ ưu thế nhân số. Thực ra, Barcelona đã không hoàn toàn thành công trong giai đoạn đầu khi sử dụng bộ ba kiến thiết Xavi-Deco-Iniesta, và Aragone của Tây Ban Nha đã giải quyết rốt ráo vấn đề bằng một "máy chém" xem giữa 2 tiền vệ kiến tạo

2.3. Tiền vệ thu hồi bóng trung tâm (Ball Winning Midfielder...)


Michael Essien (áo xanh)
Một hình mẫu tiền vệ phòng ngự dạng nhô cao của bóng đá hiện đại. Hoàn toàn trái ngược với tiền vệ kiến tạo trung tâm, tiền vệ trụ trung tâm là mẫu "kẻ hủy diệt" điển hình, những chuyên gia kèm người, đoạt bóng, và chiếm lĩnh trung tuyến bằng thể lực (và hạn hữu còn là tốc độ) tuyệt vời.

Thực ra, tiền vệ trụ trung tâm đôi khi còn là mẫu tiền vệ thi đấu tinh tế và đẹp mắt hơn nhiều so với những cái tên đại loại như "công nhân" hay "chiến binh thầm lặng", trong khi các tiền vệ kiến thiết trung tâm là "mắt bão" tấn công, tiền vệ trụ trung tâm lại là nhà chỉ huy của hệ thống phòng ngự từ xa: Óc phán đoán, thể lực, tâm lý sẵn sàng "chơi bẩn", khả năng tăng tốc và tung ra những pha tắc bóng chính xác khiến các tiền vệ trụ trung tâm luôn tỏa sáng trong những pha đánh chặn đẹp mắt hoặc đơn giản là phong tỏa hoàn toàn mọi con đường tấn công của đối thủ.

Cùng sự phát triển của bóng đá, vị trí này càng ngày càng trở nên quan trọng trong đội hình mọi đội bóng bất chấp triết lý bóng đá của họ là tấn công hoa mỹ hay phòng thủ kỷ luật. Tiền vệ trụ trung tâm bảo vệ các nhà kiên thiết thi đấu ngay bên cạnh mình, chắn ngang mọi đợt tấn công của đối thủ từ vị trí đủ xa để hệ thống phòng ngự đủ thời gian thiết lập và khỏa lấp những sai lầm của tuyến trên, trong nhiều trường hợp, họ còn là nhân tố chủ yếu để chiếm lĩnh khu trung tuyến nhằm áp đặt lối chơi.

2.4. Tiền vệ con thoi (Box to Box Midfielder)

Tên gọi khác: Tiền vệ đa năng

Stephen Gerrard
Mẫu tiền vệ thu nhỏ của "vị trí kỳ quặc nhất lịch sử bóng đá" (Libero), cũng là mẫu tiền vệ trung tâm được ưa thích nhiều nhất trên sân đấu. Tiền vệ con thoi là những cầu thủ có tầm hoạt động cực kỳ rộng: Trong khoảng giữa hai khu vực 16m50 của sân đấu. Di chuyển liên tục, lên công về thủ như con thoi, mạnh mẽ và quyết đoán, phán đoán tinh tế và kỹ thuật tuyệt vời..., nếu như tiền vệ toàn diện trung tâm kiểu cổ điển là nhà chỉ huy hoàn hảo, thì tiền vệ con thoi chính là chiến binh toàn diện của đội bóng.

Đúng như cái tên "đa năng", không có một nhiệm vụ chuyên biệt nào dành cho tiền vệ con thoi: Họ sẵn sàng hoán đổi vị trí với bất kỳ cầu thủ nào trong hàng tiền vệ (chứ không phải tiền vệ trung tâm), cũng có thể chơi "độc diễn", sáng tạo, và trực tiếp ghi bàn. Sở hữu một tiền vệ con thoi xuất sắc là sở hữu một cầu thủ có khả năng đá tốt ở bất kỳ một vị trí nào trong tuyến tiền vệ.

Sử dụng tiền vệ con thoi thực sự là một sự mạo hiểm toàn diện với tất cả mọi sơ đồ chiến thuật. Vì những phẩm chất và yêu cầu vị trí đặc thù, các tiền vệ con thoi giống với những người anh hùng trong truyện cổ, đến khi cần và biến mất khi hoàn thành mọi thứ, thay vì là nhà chỉ huy, hoặc một phần của hệ thống công thủ. Sự xuất hiện của họ, vì thế, vừa có ích, vừa phá vỡ lối chơi kỷ luật hoặc sáng tạo của toàn đội. Đó là chưa kể, tất cả các đội bóng sử dụng tiền vệ con thoi đều bị phụ thuộc hoàn toàn vào phong độ thi đấu của vị trí này: Khi tiền vệ con thoi sung sức, những toan tính chiến thuật gây bất ngờ đạt ở họ được thực hiện triệt để, đội bóng trở nên rất khó lường với 1 mũi tấn công ẩn như con dao ẩn dưới lớp áo, khả năng tranh chấp bóng cũng tốt hơn khi họ hiện diện ở khắp nơi. Song khi tiền vệ con thoi kiệt quệ, đội bóng phải trả giá bằng sự đổ gãy cấu trúc do sự phụ thuộc ở cả 3 tuyến vào vị trí này đã thành thói quen. Mối liên kết giữa Stephen Gerrard và Liverpool thời Rafa Benitez là một ví dụ hoàn hảo.

2.5 Tiền vệ trụ trung tâm.

Giống với mẫu tiền vệ con thoi, tiền vệ trụ chơi ở vị trí trung tâm thường là những cầu thủ có thể lực sung mãn, khả năng phán đoán tình huống tốt và quan trọng là sở hữu kỹ năng cắt bóng xuất sắc. Tuy nhiên, nhiệm vụ của tiền vệ trụ trung tâm lại đơn giản và thực tế hơn nhiều so với mẫu tiền vệ con thoi: Nhiệm vụ chủ yeeus của họ là sử dụng sức mạnh thể chất và những pha cắt bóng chính xác để tăng cường khả năng cạnh tranh tuyến giữa, bảo vệ cho các tiền vệ "nghệ sĩ" và hiển nhiên, phòng ngự từ xa nữa!Mẫu cầu thủ này không cần/không được yêu cầu dâng cao hỗ trợ tấn công thường xuyên, thậm chí, các cầu thủ chơi ở vị trí này đôi khi còn không "thèm" bước qua khỏi vạch giữa sân trong suốt trận đấu.

Nếu như các tiền vệ kiến thiết là những ông chủ của trận đấu, là biểu tượng của bóng đá đẹp thì các tiền vệ trụ, ở giữa sân cũng vậy, mà ở các vị trí khác cũng vậy, đều là những "kẻ huỷ diệt bóng đá" (detroyer). Họ đơn thuần chỉ là những gã công nhân càn quét khu trung tuyến, là nền tảng thực dụng cho những bộ óc thiên tài thi đấu bên cạnh được toả sáng. Ngày nay, khi bóng đá càng ngày càng trở nên thực dụng, cơ bắp, và tốc độ hơn, đồng thời, những gã nghệ sĩ thiên tài nhưng mong manh thì không phải ở đâu cũng có, hầu hết các đội bóng chuyên nghiệp trên thế giới đều bị buộc/hoặc luôn mong muốn sở hữu ít nhất một cầu thủ đá trụ như một phương thức đơn giản và hiệu quả nhất để tự bảo vệ mình.

Trúc Phong
Đường dẫn đến khung thành

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] 20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010

(Đường dẫn đến khung thành) - Sau 20 bài viết, loạt bài này cuối cùng cũng đã đi đến kết thúc. Dưới đây là 20 chiến thuật được bầu chọn vào danh sách những đội hình xuất sắc nhất thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.


Lựa chọn 20 trong số hàng nghìn đội hình chiến thuật khác nhau quả thực là một nhiệm vụ khó khăn! Mục đích là, chúng tôi không lựa chọn 20 đội hình "tốt nhất", mà là 20 đội hình "thú vị nhất, hoặc là hiệu quả nhất so với tiềm lực của cầu thủ. Như đội tuyển Pháp ở Euro 2004, Úc ở World Cup 2006 hoặc Bologna mùa giải 2001-2002, những đội bóng sẽ khó được chấp nhận như là một đội hình tuyệt vời, nhưng là một đối tượng nghiên cứu chiếu thuật hết sức hấp dẫn.

Đây là một danh sách được liệt kê hoàn toàn cảm tính và không theo bất kỳ một tiêu chuẩn khắt khe nào, vì thế, điều đáng quan tâm ở đây không phải là tìm kiếm ý nghĩa phân cấp trình độ giữa các đội hình trong danh sách, mà là bản thân mỗi đội hình có những vấn đề thú vị nào.

Một vấn đề khá thú vị khác là, rốt cục, tuyến phòng thủ 3 người là như thế nào? 4-4-2 và những biến thế của nó đã vận hành thế nào? 3 đội đứng đầu trong top 5 danh sách này đã chơi thế nào khi không sử dụng tiền đạo? Và vì sao những cái tên như Cafu, Gilberto Silva, Thierry Henry, Lucio, Dani Alves lại xuất hiện đến 3 trong số 20 đội hình đặc biệt đó?

Có một số đội bóng đã thi đấu rất thành công, nhưng lại không có mặt trong danh sách: Nhà vô địch World Cup 2006 - Italia, Inter Milan và Bayern Munich nửa sau thập kỷ trước... Và đối tượng chọn lọc cũng quá hẹp để một vài đội bóng ở khu vực ngoài Tây Âu cũng không có cơ hội lọt vào...

Tuy nhiên, bỏ qua hết những yếu tố trên, đây hẳn là một series khá thú vị về lịch sử bóng đá cho những người thích nhìn ngắm quá khứ và trông đợi tương lai. Dù gì, thập kỷ thứ 2 của thế kỷ này đã đi qua 1/3 chặn đường của nó rồi!

Sevilla, 2005-07: 2 UEFA Cup liên tiếp đã cho thấy sơ đồ 4-4-2 truyền thống vẫn có thể tạo ra những kết quả tuyệt vời khi được điều chỉnh phù hợp với nguồn lực có sẵn.


Pháp, Euro 2004: Vì những cố gắng sáng tạo một sơ đồ bóng đá hoàn toàn mới, nhưng xây dựng chiến thuật không phải là sự nhồi nhét những cầu thủ tốt nhất của mình vào đội hình xuất phát.


Australia, World Cup 2006: Với hệ thống tùy biến 3-6-1 nhằm tăng cường khả năng kiểm soát bóng.


Bologna, 2001-2002: Cho thấy sức mạnh mà một "ngọn hải đăng" có thể mang lại cho đội bóng và sự tùy biến sơ đồ trên cùng một hệ thống chiến thuật.


Senegal, World Cup 2002: Cú sốc lớn nhất World Cup 2002 - triết lý bóng đá thể lực và tốc độ đã đánh bại đương kim vô địch Pháp ngay trận mở màn.


Brazil, 2007-2009: Đội bóng đã làm nên cuộc tranh luận chiến thuật lớn nhất thập kỷ: Là 4-2-3-1 hay 4-4-2 kim cương?


Milan, 2002-2007: 2 chức vô địch Champions League với 1 đội hình sở hữu 4 cầu thủ kiến tạo xuất sắc ở hàng tiền vệ. Đội hình đã làm nên tên tuổi của tiền vệ kiến thiết lùi sâu vĩ đại nhất bóng đá hiện đại.


Chelsea, 2004-2006: Vô địch ngoại hạng Anh với một sức mạnh áp đảo và lời khẳng định ưu thế tuyệt đối của hệ thống phòng ngự 4-3-3.


Brazil, World Cup 2002: Nhà vô địch với sự thay đổi chiến thuật đầy mạo hiểm mặc dù sở hữu đến 7 cầu thủ phòng ngự trong sơ đồ 3-4-3 kỳ lạ.


Valencia, 2001-2004: Một lần vô địch La Liga và 2 lần vô địch UEFA Cup, những người tiên phong của đế chế 4-2-3-1.


Roma, 2000-2001: Minh chứng cho sức mạnh của hệ thống 3 trung vệ và cuộc cạnh tranh của hai tiền đạo


Arsenal, 2001-2004: 2 chức vô địch Premier League với sức mạnh hoàn hảo, điểm giao thoa giữa sơ đồ 4-4-2 với 4-2-3-1.


Cộng hòa Czech, Euro 2004: Với số lượng cầu thủ tấn công nhiều nhất thập kỷ.


Tây Ban Nha, Euro 2008: Sức mạnh của Tiki-Taka.


Bayer Leverkusen, 2001-2002: Đến rất gần với 3 danh hiệu liên tiếp và là tiền đề cho những phát triển chiến thuật diễn ra suốt thập kỷ.


Roma, 2005-2007: Sơ đồ chiến thuật của tương lai - mô hình không tiền đạo.


Porto, 2002-2004: Câu lạc bộ ấn tượng nhất thập kỷ - từ một đội bóng vô danh đến nhà vô địch Champions League.


Manchester United, 2006-2009: Những danh hiệu liên tiếp xuất hiện với hệ thống chiến thuật biến hóa liên tục và tối ưu hóa năng lực cầu thủ.


Barcelona, 2008-2009: Vô địch tất cả mọi giải đấu mà họ tham dự, khiến cả thế giới đều phải cúi đầu.


Hi Lạp, Euro 2004: Cú sốc lớn nhất lịch sử bóng đá thế giới.


Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #1: Đội tuyển Hi Lạp, Euro 2004

(Đường dẫn đến khung thành) - Đội hình này của Hi Lạp có thể là điều bất ngờ nhất của bóng đá thế giới trong suốt 1 thập kỷ trước. Không! Thậm chí nó có thể còn là điều bất ngờ nhất lịch sử bóng đá thế giới nữa! Thế giới đã từng chứng kiến khá nhiều cú sốc kiểu như chiến thắng 1-0 của Mỹ trước Anh năm 1950, hay chiến thắng cùng tỉ số 1-0 của Senegal trước Pháp năm 2002. Nhưng nếu so mang với những gì mà Hi Lạp làm được năm 2004, thì những chiến thắng trên... chẳng có gì là ghê gớm cả!


Chưa bao giờ trong lịch sử bóng đá thế giới, người ta lại được chứng kiến một đội bóng gồm toàn những nhân vật vô danh trên đấu trường quốc tế lại giành hết chiến thắng này đến chiến thắng khác để trở thành nhà vô địch của một trong những giải đấu lớn nhất hành tinh. Khi mà tỉ lệ đặt cược của bạn chỉ là 250/1, người ta đã ngầm ước định rằng bạn sẽ không có cơ hội nào để chiến thắng với kèo này. Hi Lạp đã là nhà vô địch châu Âu năm 2004. Không còn nghi ngờ gì nữa! Đó hoàn toàn là nhờ sức mạnh của chiến thuật.

Hi Lạp đã chơi phòng thủ tiêu cực! Hi Lạp đã chơi quá nhàm chán! Hi Lạp đã không fair play!... Hãy nói những gì bạn muốn! Nhưng cho dù có biện hộ thế nào, bạn vẫn không thể phủ nhận rằng họ đã liên tục hạ gục hết đối thủ này đến đối thủ khác. Trong trận đấu mở màn, khi đánh bại đội chủ nhà Bồ Đào Nha, lối chơi của Hi Lạp được rất nhiều người tán thưởng: Chuyền bóng đẹp mắt, dâng cao tấn công và chơi bóng tích cực. Đó là một chiến thắng bất ngờ mở màn cho giải đấu khốc liệt và kịch tính giống y như những gì đã diễn ra ở Đông Á 2 năm trước, khi Senegal đả bại Pháp.
Phải thừa nhận rằng, Hi Lạp đã không thể duy trì thứ bóng đá tuyệt vời của họ từ vòng knock-out. Nhưng bạn sẽ phải ngạc nhiên vì sự hiệu quả của lối chơi mới:

- Thắng đương kim vô địch Pháp 1-0 ở tứ kết bằng một pha tạt cánh-đánh đầu từ biên phải.

- Thắng cộng hòa Czech 1-0 ở bán kết từ một pha phạt góc-đánh đầu từ góc phải.

- Thắng chủ nhà Bồ Đào Nha 1-0 ở trận chung kết cũng bằng một pha phạt góc-đánh đầu từ góc phải.

Liên tục đánh bại từ nhà đương kim vô địch, đội bóng xuất sắc nhất giải, đến đội chủ nhà với cùng một tỉ số và cùng một cách thì chẳng thể nào là điều ngẫu nhiên được nữa! Hi Lạp thực sự đã có một hệ thống chiến thuật hết sức khôn ngoan, được triển khai tỉ mỉ và chính xác trong từng trận đấu một.

Hãy nhớ lại ngày mồng 6 tháng 10 năm 2001: Phút 93 ở Old Trafford, David Beckham đã ghi bàn từ một pha sút phạt hoàn hảo để giúp Anh vượt qua Đức trong chiến dịch vòng loại World Cup 2002. Trong trận đấu đó, hi vọng bạn vẫn còn nhớ, Hi Lạp đã thực sự khiến Anh gặp khó khăn, họ đã chơi xuất sắc hơn trong phần lớn thời gian diễn ra trận đấu và khiến các hảo thủ của Tam sư phải "ngậm tăm" hoàn toàn.

Có thể bạn sẽ không nhớ, nhưng đó là trận đấu đầu tiên của Otto Rehhagel trong vai trò HLV Hi Lạp. Đội hình Hi Lạp thời điểm đó đã gặp khủng hoảng nghiêm trọng, nhưng chỉ cần một trận đấu, Rehhagel đã thu về được rất nhiều ý tưởng về việc vận hành lối chơi để Hi Lạp có thể đả bại những đối thủ lớn hơn: Chiến thuật đá rắn và kèm người thật chặt. Hi Lạp chỉ có một trận hòa, nhưng trong tình huống đó, thực ra họ mới là người chiến thắng.

Với cơ sở là lối chơi rắn, kỷ luật và nhàm chán, Hi Lạp đã vượt qua mọi giới hạn trình độ để đánh bại rất nhiều đội hình khác nhau của đối thủ. Hằng số duy nhất trong sơ đồ thi đấu của họ là luôn "thủ sẵn" một vị tri "thừa" ở phía sau. 

Trong riêng trận gặp Pháp, họ liên tục hoán đổi giữa 2 hệ thống phòng ngự 3 người và 4 người. Pháp có 2 tiền đạo nên Hi Lạp sử dụng 2 hậu vệ quét luôn sẵn sàng áp sát. Trezeguet ở trung tâm bị Kapsis kèm chặt, Henry dạt trái bị hậu vệ phải là Seitaridis đeo dính. Hậu vệ cánh Fysass được thả lỏng để đảm nhiệm tấn công cánh trái trong khi cánh phải là nhiệm vụ của tiền vệ Zagorakis. Nhưng nếu như dựa vào đó mà khẳng định rằng Hi Lạp sử dụng  xoay vòng sơ đồ 3 hậu vệ và 4 hậu vệ thì không đúng! Vì chiến thuật phòng thủ của Hi Lạp hoàn toàn phụ thuộc vào cách di chuyền của các cầu thủ Pháp, và vì Pháp là một đội hình mất cân đối (xin xem #19), cách phòng thủ của Hi Lạp cũng vì thế mà... lệch theo.


Ở hàng tiền vệ, Hi Lạp sủ dụng đến 4 tiền vệ trung tâm để hạn chế tối đa khả năng cầm bóng của Pháp. Chiến thuật này thực sự có hiệu quả khi họ có đến 7 cầu thủ để phòng thủ, còn khi tấn công, từ những bước chạy của Fysass và Zagorakis ở hai bên cánh, Hi Lạp đã sử dụng đến 5 cầu thủ (chứ không phải 3 cầu thủ) để tạo ra bàn thắng. Hệ quả là, chẳng có gì bất ngờ khi bàn thắng duy nhất trong trận đấu đến từ một pha tạt cánh của Zagorakis.

Hi Lạp đã giữ nguyên sơ đồ thi đấu trong trận gặp Czech, cũng là một đội có 2 tiền đạo. Mặc dù bị ép sân từ khá sớm, Hi Lạp cũng đã mau chóng trở lại là chính mình và ghi "bàn thắng bạc" tiễn Czech về nước.

Trong trận chung kết, họ phải đối mặt với một chiến thuật hoàn toàn khác đến từ Bồ Đào Nha. Đội bóng chủ nhà chơi 4-2-3-1 với chỉ một mình Pauleta đá cao nhất. Điều này có nghĩa là sơ đồ 3 trung vệ của Hi Lạp sẽ bị thừa người, trong khi khu vực tiền vệ hoặc hai bên cánh thì thiếu nhân sự trong trường hợp hậu vệ cánh của Bồ dâng cao. Rehhagel hiểu điều đó nên đã chuyển hoàn toàn sang sơ đồ phòng ngự 4 người truyền thống và kéo lùi thêm 1 tiền vệ trung tâm. Các hậu vệ cánh được giao nhiệm vụ kèm chặt Figo và Ronaldo, và cuộc chiến ở hàng tiền vệ là 3vs3 với Basinas và Katsouranis đá thấp, Zagorakis đôi khi được dâng cao. Trong trận đấu đó, vì thiếu vắng những pha treo bóng của Georgios Karagounis, Hi Lạp đã gặp rất nhiều khó khăn khi triển khai lối chơi của mình.

Đá cao nhất trên hàng công, Vryzas đóng vai trò là tiền đạo duy nhất, được hỗ trợ bởi 2 cầu thủ khác là Stelios Giannakopoulos và Angelos Charisteas. Thực ra, Stelios Giannakopoulos, một cầu thủ chạy cánh điển hình, đã mắc kẹt ngoài cánh trái suốt trận đấu vì áp lực từ hậu vệ phải của Bồ là Miguel. Ở cánh bên kia, Nuno Valente ít dâng cao hơn, và vì vậy, Angelos Charisteas có nhiều cơ hội tấn công hơn, thậm chí, nhờ sự xuất sắc của hậu vệ phải Seitaridis, anh còn trở thành một tiền đạo thứ 2 khi Hi Lạp có bóng.

Người Hi Lạp có thể lặp lại chiến tích cũ vói Bồ Đào Nha một lần nữa hay không? Đương nhiên rồi! Charisteas lại tỏa sáng, và Bồ Đào Nha gần như không có cách nào phá vỡ được hệ thống phòng ngự vô cùng kỷ luật của Hi Lạp. 15 phút cuối trận, Giannakopoulos ra nghỉ, Stelios Venetidis, một hậu vệ trái, vào sân, và Hi Lạp lúc này có đến 8 cầu thủ phòng ngự án ngữ trước khung thành. Felipe Scolari, HLV của Bồ Đào Nha, đã không có cơ hội nào để đánh bại Hi Lạp: Quyết định chuyển sang sơ đồ 2 tiền đạo cũng đã được đưa ra, nhưng cuối cùng ông lại quyết định thay Pauleta bằng Nuno Gomes thay vì biến đổi sơ đồ thi đấu.

Không nhiều đội bóng có thể dễ dàng thay đổi hệ thống phòng ngự 3 người sang 4 người, và phần lớn các HLV đều luôn bị ám ảnh bởi mệnh đề "không thay đổi đội hình chiến thắng", nhất là khi đối thủ bị đánh bại lại là 2 cường địch hàng đầu giải vào thời điểm đó là Pháp và Czech. Nhưng trên thực tế, bạn cần phải thay đổi đội hình nếu điều đó là cần thiết, và Rehhagel tin rằng, với một đội bóng được đánh giá yếu hơn như Hi Lạp, sơ đồ thi đấu phải là hệ thống được tạo ra để chống lại lối chơi của từng đối thủ một.

Chiến thuật của Rehhagel luôn có 2 yếu tố quyết định để tạo nên thành công:

- Thứ nhất, ông tận dụng hết toàn bộ sức mạnh của cả đội bóng: Họ có 1 hàng hậu vệ thi đấu vững chắc, kỷ luật và mạnh mẽ, 1 tuyến tiền vệ làm việc không mệt mỏi có quá ít kỹ năng tấn công. Bóng đá tấn công là tự sát, nên họ xoáy mạnh vào phòng ngự, sử dụng những pha phản công thần tốc và tận dụng tối đa các tình huống cố định.

- Thứ hai, ông thay đổi đội hình liên tục để vô hiệu hóa năng lực đối thủ. Hệ thống đã dùng để đánh bại Czech và Pháp chắc chắn không thể đương đầu với Bồ và ngược lại.

Phát huy tối đa khả năng bản thân và hạn chế hết mức khả năng đối thủ để tạo nên cú sốc lớn nhất lịch sử bóng đá thế giới. Đó chính là lý do để Hi Lạp, chứ không phải bất kỳ đội bóng nào, nằm ở vị trí số 1 bảng danh sách này.
Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #2: Barcelona, 2008-2009

(Đường dẫn đến khung thành) - Bạn có thể yêu cầu gì hơn với Barcelona ở thời điểm đó? Đương kim vô địch UEFA Champions League, đương kim vô địch La Liga, và Copa Del Rey, giành tất cả mọi danh hiệu trong ngay mùa giải đầu tiên dưới sự dẫn dắt của Pep Guardiola. Hơn nữa, Barcelona không phải chỉ đơn giản là giành chiến thắng trong tất cả mọi trận đấu cần phải tháng, mà còn chiến thắng bằng phong cách đặc trưng của riêng họ, hệ quả là, đội hình mà họ sở hữu là đội hình đáng được ngưỡng mộ nhất thập kỷ vừa qua.

Hiệu suất ghi bàn ở La Liga của họ đã ấn tượng lại càng ấn tượng nhờ những chiến thắng tuyệt đối với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Real Madrid (6-2), Sevilla (4-0), Atletico (6-1), Valencia (4-0), Deportivo (5-0) và Malaga (6-0). Trong top 8 mùa giải đó, chỉ có đúng một mình Villareal (hạng 5) là "thoát nạn". Lúc đó, chỉ riêng bộ ba Messi - Eto'o và Henry cũng đã ghi nhiều hơn 100 bàn thắng/mùa.

Họ có một chút may mắn ở trận bán kết Champions League khi bị Chelsea của Guus Hiddink vượt mặt, và mọi người đều cho rằng Chelsea mới là đội xứng đáng hơn với chiến thắng. Nhưng trận chung kết với M.U thực sự là một chiến thắng hoàn hảo: Sau chỉ 10 phút chịu trận, hệ thống của Barcelona nhanh chóng được khởi động, và Eto'o đã dẫn dắt cả đội chiếm lĩnh hoàn toàn thế trận.
Barcelona thường sử dụng cố định sơ đồ 4-3-3 suốt cả mùa giải, đẩy cao đội hình và chiếm lĩnh hoàn toàn thế trận ngay từ phần sân đối phương. Henry chơi rất rộng bên cánh trái và Messi được thả tự do hoàn toàn bên cánh phải nhờ sự cơ động của Dani Alves. Ở hàng tiền vệ, Iniesta thi đấu nhô cao trong khi Xavi giữ trách nhiệm cầm trịch trận đấu và Yaya Toure đá ngay phía trước hai trung vệ.

Tất nhiên, hệ thống của Pep Guardiola còn tinh tế hơn như thế nhiều, cả về phương diện phòng thủ lẫn tấn công: Ở hàng công, Guardiola cho phép Eto'o và Messi đảo vị trí liên tục, nhất là trong giai đoạn cuối mùa giải. Và khi Messi là một tiền đạo sáng tạo (số 10 dạt cánh) còn Eto'o là tiền đạo sát thủ điển hình (số 9), chiến thuật thi đấu của Barca cũng liên tục thay đổi theo di chuyển của bộ đôi này. Khi Messi chơi như một "số 9 ảo" thì Eto'o đá như một tiền đạo cánh, và việc cả anh cùng với Henry đều chơi cao hơn Messi khiến cho các hậu vệ cánh của đối thủ phải gặp nhiều khó khăn hơn so với các đồng đội đá phía trong. Đặc điểm này nói lên điều gì? Một phiên bản khác của hệ thống không tiền đạo Roma? Hay sơ đồ 4-3-1-2? Dù là kiểu nào, thì nó cũng khiến hàng phòng thủ của đối phương đứng trước nguy cơ "khoét nách" cực kỳ cao.

Toan tính chiến thuật mới này đã không thực sự hiệu quả trong trận đấu với Chelsea, nhưng lại khiến Manchester United gặp vấn đề thực sự: Eto'o mở tỷ số từ cánh phải, Messi ấn định kết quả bằng một pha tấn công trung lộ, và Barca thống lĩnh hoàn toàn thế trận.

Ở tuyến sau, điều đáng chú ý nhất là cách mà hai trung vệ mở rộng không gian chơi bóng sang hai cánh (đặc biệt là khi Victor Valdes có bóng). Khoảng cách giữa 2 trung vệ được Yaya Toure lấp đầy bằng vị trí rất gần với một trung vệ thứ ba, và hai hậu vệ cánh được dịp dâng cao tấn công. Một phong cách bóng đá rất gần với bóng đá hiện đại Brazil thời kỳ hoàng kim.

Điều này có nghĩa là, Barcelona thực sự linh hoạt cả về phòng thủ lẫn tấn công, nhất là khi họ cũng là chủ sở hữu của cặp tiền vệ cung cấp bóng tốt nhất thế giới là Xavi và Iniesta. Thời gian đó, không có bất kỳ một đối thủ nào trên thế giới có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến ở khu trung tâm với Barcelona.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #3: Manchester United, 2006-2009

(Đường dẫn đến khung thành) - Không giống với các đội hình khác trong danh sách, Manchester United đã không sử dụng cố định một sơ đồ cụ thể nào để làm nên thành công đáng kinh ngạc trong suốt ba mùa giải từ 2006 đến 2009. Sir Alex Ferguson đã sử dụng rất nhiều phương án khác nhau cho đội bóng của mình: 4-3-3, 4-4-2, 4-5-1, 4-2-3-1, 4-4-1-1 và có lẽ còn hàng tá các kiểu bố trí khác nữa.

Manchester United tứ kết lượt đi trận Roma ở Champions League
Với rất nhiều cách bố trí đội hình khác nhau, một hệ thống xoay vòng cầu thủ và những phi vụ chuyển nhượng ngôi sao liên tục được xảy ra, không ai có thể đơn giản nhận định về đội hình của M.U bằng cách đưa ra sơ đồ 11 cầu thủ và bảo rằng "họ đã chơi như thế suốt cả 3 mùa". Tuy nhiên, nói một cách khái quát thì đội hình giành chiến thắng trong trận chung kết Champions League mùa giải 2007-2008 có thể xem là mô tả tốt nhất khi nói về M.U thời điểm đó.
Manchester United trận chung kết Champions League 2009
M.U luôn luôn sử dụng hàng hậu vệ 4 người và hai tiền vệ trung tâm lùi sâu. Ferguson cũng thường sử dụng một tiền vệ bổ sung thi đấu sau lưng bộ ba hủy diệt là Cristiano Ronaldo - Wayne Rooney - Carlos Tevez.

Có 3 lý do để Alex Ferguson có thể biến tấu đội hình một cách linh hoạt: 1,  Cristiano Ronaldo - Wayne Rooney - Carlos Tevez đều có khả năng chơi rất rộng, từ dạt cánh cho đến tấn công trung lộ; 2, cả 3 cầu thủ trên đều là những "ông chủ vòng cấm" thực thụ, nghĩa là Ferguson có thể chỉ "ngồi chơi không" và nhìn cách mà 3 cầu thủ tự do của ông nhảy múa; 3, ba cầu thủ trên cũng là những người ý thức rất rõ vai trò phòng ngự từ xa của mình.

Đương nhiên, vấn đề cốt lõi của đội hình này là chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ Roma của Luciano Spalletti. The United thậm chí đã chơi bóng mà không có bất kỳ một tiền đạo cố định nào. Ronaldo chủ yếu là một cầu thủ chạy cánh, người đã phát triển rất nhanh cả về kỹ thuật lẫn thể lực để trở thành mối đe dọa thường trực từ hai bên cánh. Bên cạnh đó, Rooney và Tevez đều thường xuyên thi đấu lùi sâu và tích cực tranh bóng.

Không phải lúc nào bộ ba nguyên tử này cũng xuất hiện, như trong một vài trận đấu ở giải châu Âu, Tevez được thay thế bằng một tiền vệ chăm chỉ kiểu như Park Ji-Sung. Trận thắng ở ngay trên sân nhà của Roma năm đó được cho là một trong những trận đấu hay nhất mà một CLB Anh từng chơi ở đấu trường Châu Âu. Rooney chơi dạt sang cánh trái để tạo nên 1 hàng tiền vệ 5 người, trong khi Ronaldo chơi như 1 tiền đạo duy nhất trên hàng công. Trong khi Francesco Totti phát minh ra vai trò “số 9 ảo” bằng việc lùi sâu về đến giữa sân, Ronaldo vừa lùi về vừa dạt sang hai bên cánh hoặc bất cứ chỗ nào có khoảng trống, quấy nhiễu và làm cho bộ đôi trung vệ của Roma phải làm việc vô cùng vất vả. Khi Ronaldo làm vậy thì Rooney hoặc Park sẽ là cầu thủ chơi cao nhất. Mu thắng 2-0, với bàn mở tỉ số bằng pha đánh đầu đầy kĩ thuật và đậm chất của một tiền đạo đúng nghĩa.

Tuy vậy, sự linh hoạt của bộ ba tấn công vẫn là lý do cơ bản để Ferguson có thể dễ dàng biến đổi hệ thống thi đấu trước các đối thủ khác nhau. Ví dụ như Ronaldo được yêu cầu đá cao nhất, còn Rooney dạt trái trong trận gặp Roma, trận gặp Chelsea thì ngược lại, khi Ronaldo được yêu cầu lệch trái để tấn công vị trí của Essien, kết quả là khả năng choi bóng bổng vượt trội của Ronaldo trước Essien đã mang lại bàn thắng cho United. Khả năng thay đổi vai trò của từng cá nhân mà không ảnh hưởng đến toàn đội và sự ăn ý chính là chìa khóa dẫn đến thành công của họ.

Một số nhà phê bình đã từng cho rằng Ferguson không phải là một chiến thuật gia xuất sắc. Nhưng cùng với thời gian, nhận định này có vẻ càng ngày càng ít đúng hơn. Phong độ trên sân khách ở đấu trường Châu Âu của MU là khá ấn tượng, và cái cách họ thi đấu trong trận đấu với Arsenal ở sân Emirates vào mùa giải 2009-2010 sẽ trở thành một trong những trận đấu đậm chất chiến thuật nhất của thập kỉ.

Hiện tại, Sir Alex sử dụng xoay vòng giữa 4-3-3 (và biến thể của nó) và 4-4-2 (và biến thể của nó). Trong số các cầu thủ mà ông sở hữu, một số cầu thủ sẽ quen với đội hình chiến thuật này hơn với chiến thuật kia. Park Ji-Sung chơi cực kì ấn tượng trong đội hình 4-3-3 với vai trò tiền về ngự chơi rộng, trong khi Anderson mang lại hiệu quả với việc chỉ huy hàng tiền vệ 3 người với thiên hướng phòng ngự. Mặt khác, Berbatov dường như không thể tìm được vị trí trong 4-3-3 và thường xuyên được sử dụng hơn trong 4-4-2. Những tiền vệ trung tâm chủ chốt của Ferguson : Darren Fletcher, Paul Scholes, Michael Carrick và Owen Hargreaves (khi khỏe mạnh) đều có thể chơi những vị trí và vai trò khác nhau cho dù là chơi 4 hay 3 tiền vệ.

Không thể nói đây là đội hình vĩ đại nhất mà Sir Alex đã đào tạo, nhưng có thể coi đây là đội hình mạnh nhất về việc đổi mới chiến thuật.

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #4: Porto, 2002-2004

(Đường dẫn đến khung thành) - Gần 6 năm trôi qua, thật khó để có thể mô tả chính xác những gì mà Jose Mourinho đã làm được ở Porto. Nhìn vào những cái tên như Deco, Ricardo Carvalho, Maniche và Costinha, phản ứng đầu tiên của tất cả mọi người là: À! Porto đã có rất nhiều hảo thủ.

Nhưng thực ra, đội bóng này gần như không có bất kỳ một cầu thủ nổi bật nào cho đến khi hai bản hợp đồng mua được từ hai câu lạc bộ hết thời của Liga Sagres (VĐQG Bồ Đào Nha) là Nuno Valente từ Leiria và Paolo Ferreira từ Vitoria de Setubal xuất hiện.

Hai bản hợp đồng trên là một dấu ấn của Mourinho, trong 2 mùa liên tiếp sau đó, cả 2 đều nằm trong danh sách những hậu vệ cánh tốt nhất châu Âu. Khi đến Anh, Valente và Ferreira đã không thể hiện được quá nhiều khi phải thi đấu bên cạnh những trung vệ tầm thường, nhưng khi ở Porto, với sự hỗ trợ của 3 tiền vệ trụ, họ đã chơi thực sự xuất sắc: Lên công về thủ không thua gì bộ đôi Cafu - Roberto Carlos ở Brazil.

Bên cạnh đó, chiến thuật của Porto thời điểm đó là tương đối đơn giản với sơ đồ 4-3-1-2. Hẳn nhiên, đó chẳng phải là một sơ đồ mới mẻ nào. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng không có bất kỳ một thắc mắc nào khi đánh giá đây là đội hình thi đấu kỷ luật nhất trong số 20 đội hình trong danh sách. Hàng thủ Porto đã sử dụng bẫy việt vị cực kỳ hiệu quả, thường xuyên dâng cao đội hình và khiến tiền đạo nào của đối phương "lố đà" ở hầu hết các pha tấn công. Hàng tiền vệ đã thi đấu gắn kết như từng bộ phận của một cơ thể chứ không phải một nhóm đơn thuần. Và Mourinho thường xuyên thay đổi các tiền đạo của mình sau cho phù hợp nhất với từng đối thủ một.

Đội hình này thường được mô tả là một đội hình phòng thủ, nhưng thực tế, Mourinho đã có cách tiếp cận trận đấu hết sức linh hoạt để đưa ra những điều chỉnh khác hẳn với các đối thủ khác nhau. Trong trận tứ kết Champions League Porto đã đánh bại một Lyon giau mơ mộng với tỷ số 4-2 trong một trận đấu mở. Sau đó, trong chiến thắng 1-0 trước Deportivo La Coruna trong trận bán kết, hàng phòng thủ của họ đã có một màn trình diễn tuyệt vời, để rồi, bàn thắng trên chấm Penalty của Riazor đã tiễn Deportivo rời sân chơi lớn nhất cấp CLB ở châu Âu.

Trận chung kết với Monaco là một trận đấu tuyệt vời: Hai đội bóng đều là bất ngờ của giải của hai HLV trẻ tài năng đã tạo nên một trận đấu mãn nhãn trên một sân vận động mới. Monaco đã thiếu may mắn khi vắng đội trưởng Ludovic Giuly vì chấn thương nên đã thay đổi sơ đồ chiến thuật từ 4-3-3 sang 4-4-2. Porto không bỏ lỡ cơ hội, chiếm lĩnh hoàn toàn khu trung tâm, Carlos Alberto như chạy vào chỗ không người ghi bàn mở tỉ số cho Porto. Sang hiệp hai, Porto còn làm được điều tuyệt vời hơn: Kéo đến 7 cầu thủ về án ngữ trước khung thành và chỉ tấn công với 3 người, nhưng Deco và Aleynichev đã ghi đến 2 bàn từ các tình huống phản công.

Không ai biết được rằng, liệu thế giới sẽ có thể chứng kiến một lần nữa hình ảnh của nhà vô địch Champions League là một đội bóng nhỏ từ một nền bóng đá kém phát triển như Porto ngày ấy hay không khi mà sự thống trị của Big four, Barcelona, và Milan trong những năm gần đây đã khiến giải đấu châu Âu trở thành cuộc chiến của riêng họ. Có lẽ, điều duy nhất chúng ta có thể hi vọng lúc này là những nỗ lực của Michel Platini trong việc giải quyết các vấn đề bất bình đẳng của bóng đá châu Âu.

Nhưng thành tích của Porto không chỉ ở Champions League. Mourinho cũng đã vô địch UEFA Cup vào mùa giải trước đó, vô địch Liga Sagres hai lần liên tiếp, đoạt 1 Portuguese Cup (1 lần á quân), và 1 siêu cúp Bồ Đào Nha.

Quan trọng nhất, Porto 2002-2004 đã giới thiệu với thế giới người đàn ông sẽ đi vào lịch sử bóng đá thế giới như là một trong những HLV vĩ đại nhất mọi thời đại. Một người chưa từng thi đấu bóng đá chuyên nghiệp với tư cách cầu thủ, người có công việc đầu tiên liên quan tới bóng đá là thông dịch viên cho Bobby Robson ở Sporting Lisbon, và là người hiện đang nắm giữ hàng loạt kỷ lục: Bất bại 130 trận cùng Porto, Chelsea và Inter (bài viết được thực hiện trước khi Mourinho sang Real). Mourinho vẫn còn một tương lai phía trước, và câu chuyện về Special One có lẽ chỉ mới bắt đầu, nhưng ông sẽ chẳng bao giờ khiến cả thế giới phải sững sờ vì chức vô địch Champions League của mình nữa!

Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

[Zonalmarking Series] [20 đội hình của thập kỉ 2000 – 2010] #5: Roma, 2005-2007

(Đường dẫn đến khung thành) - Đa số những phát mình là kết quả của rất nhiều năm nghiên cứu và thể nghiệm. Nhưng một số khác, kiểu như Penicillin của Alexander Fleming, lại hoàn toàn là kết quả ngẫu nhiên sau một tai nạn. Và đội bóng của ông Luciano Spalletti chính là một Penicillin của bóng đá hiện đại: Sơ đồ 4-6-0 là một sáng chế vĩ đại, nhưng lại hoàn toàn không được dự đoán trước.


Cuộc khủng hoảng nhân sự trước thềm mùa giải mới là lý do buộc Roma, từ việc sử dụng sơ đồ 4-2-3-1 truyền thống đã làm nên thành công của họ trong thời gian trước, bị buộc phải biến tấu hoàn toàn: Họ không còn một tiền đạo thực thụ nào trên hàng công, giải pháp duy nhất lúc này là phải đẩy Francesco Totti lên cao hơn, nhưng thay vì đợi bóng từ tuyến sau, Totti thường xuyên lùi sâu thi đấu như một cầu thủ "số 10" (Fantasista). Anh thường xuyên di chuyển vào khoảng trống giữa tiền vệ và hậu vệ đối phương để nhận bóng. Nói 4-6-0 có lẽ hơi quá đáng, vì nó giống với 4-5-1-0 hơn.

Điều này đã tạo ra hàng loạt các vấn đề hoàn toàn mới cho hậu vệ (vì các trung vệ của họ đột nhiên...không có người để kèm) và tiền vệ đối phương (vì Roma có đến 4 tiền vệ chơi ở trung tâm và 2 người ở cánh). 

Rất khó để có thể giành quyền kiểm soát bóng từ tay Roma lúc này, và với những tiền vệ thường xuyên dâng cao để lấp vào chỗ trống mà Totti để lại, Roma thậm chí còn kiểm soát được hoàn toàn các đợt tấn công, kể cả khi họ không cầm bóng.

Hệ thống này vận hành tốt đến mức, bất kể việc các tiền đạo đã hồi phục hoàn toàn, Totti vẫn là cầu thủ chơi cao nhất. Và Mirko Vucinic - một tiền đạo thực thụ - lại phải chấp nhận dạt trái để chơi như một tiền vệ cánh. Totti vốn không phải là tiền đạo, nhưng điều đó không có nghĩa là anh không thể thi đấu đỉnh cao ở vị trí này. 26 bàn thắng trong mùa giải 2006-2007 là quá đủ để anh giành lấy chiếc giày vàng châu Âu và một vị trí trong danh sách những cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử đội bóng.

Ban đầu, Daniele De Rossi được giao nhiệm vụ giữ cự ly hàng tiền vệ, nhưng về sau, nhiệm vụ này được giao lại cho David Pizarro, ngoài ra, Mancini và Rodrigo Taddei là những cầu thủ đá cánh.
Công bằng mà nói, sơ đồ này vốn chỉ có thể tạo nên những thành công bất ngờ chứ biến Roma thành một đội bóng vượt trội ở Serie A. Hơn nữa, chiều sâu chất lượng cầu thủ ở Roma vào thời điểm đó là không đủ để họ có thể giành lấy những thành công liên tục. Chiến thắng bất ngờ 6-2 trước Inter trong trận chung kết Coppa Italia năm 2007 (đội bóng đã bỏ xa á quân năm đó là chính Roma với 22 điểm nhiều hơn) bất kể đối thủ sử dụng hệ thống flat defend đã chứng minh được sức mạnh khủng khiếp của sơ đồ này. Tuy nhiên, thất bại 1-7 trước M.U ở Champions League đã cho thấy hệ thống này có khả năng tự hủy diệt lớn đến mức nào.

Điều kỳ lạ là, sau trận lượt đi hoàn hảo, sơ đồ này bị Sir Alex đánh gục hoàn toàn trong trận lượt về. Rio Ferdinand và Wes Brown vốn gặp bế tắc khi phải đối mặt với 4-5 tiền vệ di chuyển liên tục của Roma, nhưng lại có một trận đấu tuyệt vời sau đó khi chỉ để lọt lưới 1 bàn. Và lý do thực sự cho chiến thắng của M.U lúc đó vẫn còn là một bí ẩn.

Nhưng sơ đồ này, bất kể những khiếm khuyết của nó, vẫn trở thành một trong những sơ đồ chiến thuật có sức ảnh hưởng lớn nhất thập kỷ. Thông qua một vài điều chỉnh nhất định, nó trở thành sơ đồ đã đưa 2 đội bóng là Manchester United và Barcelona lên chức vô địch Champions League hai mùa giải tiếp theo. 4-6-0 thực sự có đủ tiềm năng để trở thành hệ thống thống trị bóng đá đỉnh cao trong thập niên tới.

Thành công lớn nhất của 4-6-0 Roma là chiến thắng 6-2 trước Inter. Thực ra, không có bất kỳ bàn thắng nào trong số 6 bàn thắng mà Roma ghi được là hệ quả của sự vận hành tốt nhất của hệ thống. Tuy nhiên, tỉ số 6-2 trong một trận chung kết là một kết quả khá hi hữu.


Trúc Phong
Nguồn: zonalmarking

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More